Nghị định 211/2025/NĐ-CP:
Siết chặt quản lý mật mã dân sự, bổ sung chế tài mạnh về an ninh mạng
VHO - Từ ngày 9.9.2025, Nghị định 211/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, thay thế nhiều quy định cũ về hoạt động mật mã dân sự. Điểm mới đáng chú ý là nghị định bổ sung loạt chế tài xử lý vi phạm an ninh mạng, quy định chặt chẽ hơn về điều kiện kinh doanh, đồng thời rút gọn thủ tục và minh bạch hóa danh mục sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.

Bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định 211/2025 đã bổ sung một số chế tài hành chính mới nhằm tăng cường quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự:
Bổ sung các nghĩa vụ mới (Điều 11):
r) Buộc doanh nghiệp báo cáo tình hình kinh doanh sản phẩm/dịch vụ MMDS và tổng hợp thông tin khách hàng; tình hình xuất nhập khẩu.
s) Buộc lập, lưu giữ và bảo mật thông tin khách hàng, bao gồm tên loại hình, số lượng, mục đích sử dụng sản phẩm/dịch vụ MMDS.
t) Buộc khai báo việc sử dụng sản phẩm MMDS không do doanh nghiệp có giấy phép cung cấp.
u) Buộc cung cấp các thông tin liên quan đến khóa mã cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định mức xử phạt mới (Điều 93a và 93b):
Phạt cảnh cáo nếu chậm nộp báo cáo dưới 01 tháng.
Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng nếu không quản lý hồ sơ kỹ thuật, không lưu giữ/bảo mật thông tin khách hàng, hoặc nộp báo cáo chậm từ 01 tháng trở lên;
Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng nếu không thành lập thủ tục sửa đổi/bổ sung giấy phép khi thay đổi tên hoặc đại diện pháp luật doanh nghiệp;
Phạt 40 - 50 triệu đồng nếu không duy trì điều kiện cấp phép hoặc không từ chối cung cấp dịch vụ khi phát hiện vi phạm (bao gồm sử dụng sản phẩm không hợp lệ);
Phạt tiền từ 50 - 60 triệu đồng đối với một trong các hành vi cung cấp thông tin không chính xác để được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự;
Với các hành vi kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự mà không có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự tùy theo giá trị hàng hóa quy định sẽ bị phạt từ 50 - 180 triệu đồng;
Phạt tiền từ 100 - 120 triệu đồng nếu kinh doanh sản phẩm MMDS gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Hình thức xử phạt bổ sung bao gồm:
Tước giấy phép kinh doanh sản phẩm/dịch vụ MMDS từ 3 tháng đến 6 tháng.
Đình chỉ kinh doanh MMDS từ 3 tháng đến 6 tháng.
Tịch thu tang vật, phương tiện liên quan hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Biện pháp khắc phục hậu quả như buộc báo cáo, buộc lưu giữ/bảo mật thông tin, buộc khai báo sử dụng không đúng nguồn cung cấp.
Nhiều hành vi vi phạm nghiêm trọng được nêu rõ như: cung cấp thông tin sai, không phối hợp với cơ quan nhà nước, hoặc không tạm ngừng cung cấp sản phẩm khi có yêu cầu để đảm bảo quốc phòng, an ninh. Đây là các tiêu chí được nhấn mạnh để tăng cường đảm bảo an toàn và kiểm soát hoạt động kinh doanh MMDS.
Quản lý sản phẩm mật mã dân sự
Nghị định cũng quy định rõ ràng về quản lý sản phẩm MMDS thông qua các biện pháp cải thiện cơ chế công khai và đơn giản hóa thủ tục:
Giảm nhóm sản phẩm cần quản lý:
Nghị định đã tinh giản từ 8 nhóm sản phẩm mật mã dân sự xuống còn 7 nhóm, loại bỏ các nhóm không phù hợp như “sản phẩm bảo mật kênh, thành phần mật mã trong hệ thống PKI”.
Danh mục sản phẩm đính kèm:
Phụ lục I: Danh mục sản phẩm và dịch vụ MMDS được phép kinh doanh.
Phụ lục II: Danh mục sản phẩm MMDS xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy phép.
Thủ tục cấp phép rõ ràng, giảm giấy tờ:
Các hồ sơ như giấy phép kinh doanh, chứng nhận hợp quy sẽ được Ban Cơ yếu Chính phủ tra cứu trực tiếp từ Cơ sở dữ liệu Quốc gia, thay vì yêu cầu doanh nghiệp cung cấp.
Thời hạn xử lý hồ sơ rõ ràng:
Cấp mới giấy phép kinh doanh: 20 ngày làm việc.
Cấp lại do sửa đổi/bổ sung/gia hạn: 10 ngày.
Cấp lại do mất/hư hỏng: 4 ngày.
Cấp phép xuất nhập khẩu: 7 ngày làm việc.
Nghị định 211/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ 09.9 không chỉ đưa ra các quy định mới đầy đủ và chặt chẽ về kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự mà còn đơn giản hóa quy trình hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và đồng thời tăng cường hiệu quả kiểm soát, đảm bảo an toàn thông tin.