Mở không gian để OCOP bước vào chuỗi cung ứng du lịch Đà Nẵng:
Kỳ cuối - Từ gian trưng bày đến đơn hàng bền vững
VHO - Sau trải nghiệm và câu chuyện thương hiệu, OCOP vẫn còn một cửa ải khó hơn cần vượt qua, đó là được các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng và doanh nghiệp lữ hành đặt mua đều đặn. Muốn đi xa hơn những lễ ký kết, Đà Nẵng phải giải bài toán tiêu chuẩn, đầu mối phân phối, dữ liệu bán hàng và cách chia sẻ lợi ích giữa các bên.

Đây cũng là vấn đề xuyên suốt được dẫn dắt và kết nối từ hội thảo “Kết nối sản phẩm OCOP với chuỗi cung ứng du lịch TP. Đà Nẵng” diễn ra vào cuối tháng 8.2026. Thành phố có 477 sản phẩm OCOP còn hiệu lực và 28 điểm giới thiệu, bán sản phẩm. Tuy nhiên, số điểm giới thiệu không đồng nghĩa với số đầu mối phân phối đáp ứng yêu cầu của khách sạn, nhà hàng và tour du lịch.
Khi chủ thể nhỏ gặp tiêu chuẩn của kênh du lịch
Một điểm trưng bày đẹp có thể tạo ấn tượng trong ngày khai trương. Một hội thảo kết nối có thể trao thêm cơ hội tiếp xúc giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp du lịch. Nhưng thước đo của chuỗi cung ứng nằm ở tháng tiếp theo: sản phẩm có bán được không, hàng có giao đúng hẹn không và đơn mua có lặp lại hay không?
Trong câu chuyện về “Đưa sản phẩm OCOP vào hệ thống du lịch, khách sạn Đà Nẵng”, ông Lê Quốc Việt, Tổng Giám đốc Santa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch TP. Đà Nẵng, chỉ ra năm nút thắt: quy mô sản xuất nhỏ lẻ; chiết khấu cao và công nợ dài; bao bì, nhận diện yếu; thiếu đầu mối tổng hợp; thiếu dữ liệu bán hàng. Đây là những rào cản của giao dịch thương mại chứ không đơn thuần là vấn đề quảng bá.
Một khách sạn cần hàng đồng đều về chất lượng, quy cách, giá bán, có lịch giao ổn định, hóa đơn và cơ chế đổi trả. Một nhà hàng muốn đưa thực phẩm bản địa vào thực đơn cần khả năng cung ứng theo nhịp phục vụ khách. Chủ thể HTX hay hộ sản xuất lại thường có quy mô nhỏ, vốn quay vòng hạn chế, khó đáp ứng đơn lớn hoặc chịu thời hạn thanh toán kéo dài.
Các yêu cầu về nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và những tiêu chuẩn như HACCP, ISO 22000 trở thành rào cản đối với một số nhóm hàng khi muốn vào kênh bán cao cấp; không thể áp đồng loạt một chuẩn cho mọi loại sản phẩm.

Theo ông Trần Quý Tấn, Trưởng phòng Quản lý Lữ hành, Sở VHTTDL Đà Nẵng, tư duy kết nối phải chuyển từ giới thiệu sản phẩm sang hình thành thị trường và chuỗi cung ứng du lịch.
Trong đó, sáu nhóm nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra: hoàn thiện chất lượng, thương hiệu; nâng cấp kênh phân phối gắn với điểm đến; tăng xúc tiến kết nối cung - cầu; thúc đẩy chuyển đổi số, truy xuất và mua lại; hỗ trợ sản xuất, đầu tư thiết bị, liên kết; bảo đảm nguồn lực và cơ chế tài chính.
Về nền tảng chính sách, TP. Đà Nẵng đã từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ Chương trình OCOP và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đáng chú ý, Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND ngày 11.12.2025 quy định chính sách hỗ trợ Chương trình OCOP giai đoạn 2026-2030; Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29.5.2026 quy định chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026-2030, tạo cơ sở cho phát triển sản phẩm, vùng nguyên liệu, sản xuất, liên kết và tiêu thụ.
Một đầu mối trung gian, sáu đường vào thị trường
Ông Lê Quốc Việt đề xuất cấu trúc giải pháp ba lớp. Trước hết là nhà phân phối OCOP - du lịch làm trung gian gom hàng, kiểm soát chất lượng, kho vận, hóa đơn và thanh toán. Lớp thứ hai là sáu mô hình bán hàng theo từng kênh. Lớp thứ ba là số hóa, truyền thông và dữ liệu, giúp nhà sản xuất hiểu thị trường thay vì chỉ nhận báo cáo tổng doanh thu.
Sáu mô hình ông Việt gợi mở gồm góc “Tinh hoa” tại khách sạn; OCOP trong phòng nghỉ; hộp quà MICE và sự kiện; OCOP trên thực đơn; tour trải nghiệm làng nghề; đặt hàng số, giao tận nơi. Mỗi lối vào đòi hỏi lựa chọn khác nhau. Trà hay cà phê có thể được dùng thử trong phòng nghỉ; nước chấm, gia vị có thể xuất hiện trong món ăn; sản phẩm thủ công cần không gian thực hành; quà MICE phải đáp ứng quy cách và số lượng. Kênh đặt hàng số giúp giảm trở ngại hành lý, nhưng phải có đối tác giao nhận đáng tin cậy.

Ở nhà ga T2, AHT đã trình bày cách tổ chức bốn điểm chạm “Nhận biết - Trải nghiệm - Lựa chọn - Lan tỏa” và thử nghiệm “Tinh hoa Đà Nẵng” với 14 ngành hàng, 40 mã sản phẩm, doanh thu hơn 56 triệu đồng trong ba tuần mở bán.
Cũng từ sản xuất, bà Nguyễn Thị Kiều Anh, Giám đốc HTX Nông nghiệp Xanh Gò Nổi, đề xuất một mạng lưới OCOP - doanh nghiệp du lịch hoạt động thường xuyên; hỗ trợ cải tiến bao bì, bộ quà tặng và sản phẩm chuyên biệt; đưa lữ hành, khách sạn tham gia từ khâu thiết kế; xây dựng cơ sở dữ liệu số; thí điểm OCOP trong tour và điểm trải nghiệm. Điều quan trọng là doanh nghiệp du lịch được tham gia nêu tiêu chí ngay khi sản phẩm còn đang phát triển, tránh chuyện làm xong mới phát hiện không phù hợp khách hàng.
Bán được hàng và giữ được bản sắc
Để mở rộng đầu ra, có thể phân loại danh mục theo nhu cầu thực tế: hàng dùng nhanh và tiện mang đi tại sân bay; hàng dùng thử trong phòng nghỉ; nguyên liệu, gia vị ổn định cho nhà hàng; bộ quà cho MICE; sản phẩm có thể trải nghiệm ở làng nghề. Không phải cả 477 sản phẩm đều cần vào mọi điểm bán. Chọn đúng nhóm hàng, phân phối đúng kênh giúp tiết kiệm chi phí và giảm rủi ro tồn kho.
Một mắt xích còn thiếu là dữ liệu thị trường. Theo ông Lê Quốc Việt, doanh nghiệp và chủ thể chưa có đủ thông tin để biết mặt hàng nào bán tốt cho khách Hàn Quốc, Ấn Độ, châu Âu hay Mỹ. Nếu không biết nhóm khách nào mua, mức giá nào hiệu quả, mùa nào bán tốt, sản phẩm nào được chọn lại, việc trưng bày chỉ dựa vào cảm tính. Hệ thống điểm bán và kênh số vì vậy phải đưa dữ liệu quay trở lại vùng sản xuất, giúp điều chỉnh thiết kế, sản lượng và bao bì.

Những chuyển động này phù hợp với định hướng tổ chức không gian phát triển mới của Đà Nẵng. Sau hợp nhất, thành phố đang định hướng tăng liên kết giữa khu vực đô thị, ven biển, đồng bằng và miền núi. Chẳng hạn, ở cấp cơ sở, xã Nông Sơn dành 800 triệu đồng triển khai chương trình OCOP năm 2026, trong đó xây dựng hai điểm bán hàng; chú trọng bao bì, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo kết nối OCOP với du lịch Đà Nẵng, ông Trần Nam Hưng, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, nhấn mạnh yêu cầu hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro: doanh nghiệp du lịch có sản phẩm đặc sắc, nguồn hàng ổn định; chủ thể OCOP mở rộng thị trường, gia tăng giá trị và có đơn hàng bền vững; chính quyền phát huy văn hóa bản địa, thúc đẩy kinh tế nông thôn; du khách nhận được sản phẩm chất lượng, trải nghiệm đáng nhớ. Đây cũng là thước đo để phân biệt liên kết thực chất với sự hiện diện mang tính trưng bày.
Chương trình OCOP không nên chỉ được đánh giá bằng số sản phẩm được công nhận hoặc lượng quầy mới mở. Đích đến phải là nguồn thu đủ bền cho người làm nghề, doanh nghiệp có lợi ích để duy trì kênh bán, khách mua được hàng đáng tin cậy và cộng đồng không mất đi câu chuyện, nghề truyền thống đã tạo nên giá trị sản phẩm. Khi hợp đồng được thực hiện, sản phẩm được mua lại và dữ liệu quay về nhà sản xuất, không gian phát triển mới của Đà Nẵng mới thực sự trở thành thị trường cho OCOP.

RSS