Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên

NGUYỄN HOÀN

VHO - Tại vùng chè trọng điểm Tân Cương (Thái Nguyên), những đồi chè trung du cổ đang được bảo tồn và khai thác gắn với du lịch trải nghiệm, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Chè trung du cổ làm nên danh trà

Xã Tân Cương từ lâu được nhắc đến như vùng lõi của chè Thái Nguyên, nơi hội tụ nhiều giống chè đặc sản, trong đó giống chè trung du cổ tạo nên bản sắc riêng và góp phần định hình danh tiếng vùng chè nơi đây.

Theo những người làm chè lâu năm, giống chè trung du có nguồn gốc từ tỉnh Phú Thọ được cụ Đội Năm đưa về trồng tại xã Tân Cương từ những năm 1920, sau đó nhờ thích nghi tốt với khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây đã cho ra sản phẩm chè chất lượng ổn định cùng hương vị riêng biệt.

Những nương chè trung du cổ hiện nay chỉ còn rải rác ở các xóm chè lâu đời, nơi người dân vẫn giữ lại từng gốc chè, coi đó là tài sản gắn với ký ức gia đình và quá trình hình thành vùng chè đặc sản trứ danh.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 1
Những đồi chè xanh ngát trải dài

Gia đình ông Lê Quang Nghìn hiện duy trì hơn 2ha chè trung du cổ có tuổi đời từ 60 - 70 năm. Ông cho biết, chè trung du không cho sản lượng lớn như chè cành nhưng có hương vị đặc trưng nên gia đình vẫn giữ lại, không chuyển đổi, coi đây là giống chè quý do các thế hệ trước để lại.

Chè trung du cổ khi pha có màu nước xanh vàng, hương cốm, vị chát nhẹ và hậu ngọt sâu, tạo khác biệt rõ so với chè cành vốn thiên về năng suất và hình thức phục vụ thị trường.

Toàn vùng xã Tân Cương (trước sáp nhập) hiện có khoảng 350ha chè, trong đó hơn 40ha là chè trung du cổ. Đến nay, một số hộ sản xuất vẫn duy trì diện tích chè trung du cổ trong cơ cấu vườn chè dù tỉ lệ không lớn nhằm giữ lại dòng sản phẩm truyền thống phục vụ nhóm khách quen.

Người làm chè cho biết chè trung du có vị đậm sâu nhưng không phổ biến với người trẻ, khiến dòng sản phẩm này khó mở rộng thị trường, chủ yếu tiêu thụ trong nhóm khách hàng lâu năm.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 2
Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 3
Những gốc chè trung du cổ đã nhuốm màu thời gian, có nhiều cây đã hơn tuổi đời người

Giá chè trung du cổ dao động từ 300 nghìn đồng đến vài triệu đồng mỗi kilogam tùy loại, sản lượng hạn chế nên phần lớn phải đặt trước, không có nguồn cung dồi dào như các giống chè mới.

Trước đó, bà Nguyễn Thị Ngà - Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên thông tin, chè trung du không chỉ là cây trồng mà còn là kết tinh văn hóa, lịch sử và đời sống lao động của nhiều thế hệ người làm chè.

Bà Ngà cho hay, việc bảo tồn giống chè trung du cần được nhìn nhận đúng mức bởi đây là yếu tố cốt lõi tạo nên thương hiệu, đồng thời là “chứng minh thư” của chè Thái Nguyên trên thị trường.

Trong quá trình phát triển, nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp về vốn, kỹ thuật và đầu ra, người trồng chè khó có thể duy trì giống chè cổ trong điều kiện cạnh tranh hiện nay.

Trên toàn tỉnh, diện tích chè trung du còn hơn 4.000ha, chiếm khoảng 20% tổng diện tích, riêng vùng chè đặc sản Tân Cương chỉ còn khoảng 10%.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 4
Mỗi sào chè trung du mỗi năm cho khoảng 1 tạ búp khô, sản lượng ít hơn so với chè cành

Một sào chè trung du mỗi năm cho khoảng 1 tạ búp khô, giá bán khoảng 150 nghìn đồng/kg, thấp hơn và khó tiêu thụ hơn chè cành khiến nhiều hộ dân không mặn mà.

Trong khi đó, chè cành cho năng suất cao nhưng tuổi thọ chỉ khoảng 8 - 10 năm, còn chè trung du có thể duy trì hàng chục năm mà chất lượng không suy giảm.

Sự chênh lệch về năng suất và đầu ra khiến người trồng chè đứng trước lựa chọn giữa việc giữ giống chè truyền thống và chuyển sang giống chè mới cho hiệu quả kinh tế hơn.

Đặt mục tiêu tỉ đô từ cây chè

Trước đó, năm 2023, tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận giá trị văn hóa của nghề chè.

Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh hiện có khoảng 230 làng nghề chè, 77 hợp tác xã và gần 40 doanh nghiệp tham gia sản xuất, chế biến và kinh doanh chè, hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 5
Toàn tỉnh có 207 sản phẩm trà đạt chứng nhận OCOP từ 3 - 5 sao

Thái Nguyên sau sáp nhập hiện có gần 24.000ha chè, trong đó khoảng 23.000ha cho sản phẩm, năng suất bình quân đạt 180 tạ/ha thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước.

Toàn tỉnh có 207 sản phẩm trà đạt chứng nhận OCOP từ 3 - 5 sao, khẳng định vị thế chè Thái Nguyên trên thị trường trong nước và từng bước mở rộng ra quốc tế.

Theo ghi nhận, sản xuất chè vẫn chủ yếu theo quy mô nhỏ lẻ, ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 6
Vườn chè trung du cổ tại xã Tân Cương

Trong bối cảnh đó, địa phương xác định nâng cao giá trị cây chè thông qua chế biến sâu, đa dạng sản phẩm và phát triển các mô hình gắn với du lịch cộng đồng.

Tại các vùng chè như Tân Cương, định hướng vừa sản xuất vừa mở rộng trải nghiệm cho phép du khách tham quan, sao chè và thưởng trà trực tiếp tại nương.

Mô hình du lịch trà bước đầu tạo thêm nguồn thu, đồng thời góp phần quảng bá thương hiệu và giữ gìn các giá trị truyền thống của nghề chè.

Giai đoạn năm 2025 - 2030, tỉnh dự kiến dành hơn 500 tỉ đồng hỗ trợ phát triển cây chè, trong đó hỗ trợ 100% chi phí giống và 70% chi phí phân bón cho người trồng chè.

Giữ hồn chè cổ giữa vùng đệ nhất danh trà Thái Nguyên - ảnh 7
Không gian vùng chè gắn với phát triển du lịch trải nghiệm

Các hộ sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc hữu cơ với diện tích từ 5ha trở lên sẽ được hỗ trợ chi phí chứng nhận, đồng thời được hỗ trợ áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm.

Mục tiêu đến năm 2030, tổng giá trị sản phẩm từ chè đạt khoảng 25.000 tỉ đồng, tương đương hơn 1 tỉ USD, từ đó đưa cây chè trở thành ngành kinh tế có giá trị cao.

Việc gìn giữ, bảo tồn những nương chè trung du cổ không chỉ là câu chuyện sản xuất mà còn là cách bảo toàn giá trị văn hóa và bản sắc của vùng đất được xem là “đệ nhất danh trà”.