Du lịch canh nông:
Kết nối di sản cùng sản xuất
VHO - Không phải tự nhiên nhiều nhà nghiên cứu đánh giá Đắk Lắk là thị phần lớn của chuyên canh nông nghiệp và nhiều doanh nghiệp đầu tư đang nhìn nhận vùng đất này là nơi có nhiều lợi thế phát triển nông sản chất lượng cao.
Ông Trần Hồng Tiến, Giám đốc Sở VHTTDL Đắk Lắk cho rằng, Đắk Lắk là một mảnh đất có nhiều tiềm năng về nông nghiệp, đồng thời sở hữu một bề dày lịch sử văn hóa trầm hùng với nhiều dân tộc chung sống. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng các điểm đến phục vụ những du khách muốn khám phá không gian canh tác và đời sống nhà nông.
Đầy cơ hội và năng lượng xanh
Ông Lê Văn Vương, chủ thương hiệu café Vương Thành Công thuật lại, tại một hội thảo về phát triển cà phê Tây Nguyên, một diễn giả từng khẳng định vùng đất này là nơi thâu gom một lượng lớn tài nguyên nông sản giá trị cao, cho phép định hình những bài toán chuyên canh, chuyên môn rất đặc sắc.

Những con số thống kê về sản lượng và diện tích cà phê, sầu riêng, tiêu, điều… của các tỉnh, thành Tây Nguyên đủ khiến nhiều người chú ý. Nếu quản lí tốt, tổ chức tốt lực lượng canh tác này, Tây Nguyên rõ ràng có rất nhiều cơ hội và năng lượng xanh để phát triển bền vững.
Chung quan điểm này, một diễn giả nước ngoài tại hội thảo về phát triển kinh tế bền vững vùng nông nghiệp, nông thôn diễn ra ở Quảng Nam nhận định rằng, mô hình canh tác chuyên canh của làng rau Trà Quế (Hội An) là một điển hình tiêu biểu cho tư duy chủ động, linh hoạt của người nông dân bản địa trong việc thích ứng và nắm bắt cơ hội phát triển kinh tế du lịch.
Vùng quê nhỏ bé này có sản lượng rau khiêm tốn, nhưng lại có một sức hút mạnh mẽ về lượng khách đến trải nghiệm và gợi mở nhiều bài học về phát triển vững bền.
Từ những so sánh với mô hình ở Tây Nguyên và Đà Nẵng, ông Trần Hồng Tiến đặt vấn đề vì sao du lịch canh nông tại Đắk Lắk vẫn chưa phát triển tương xứng. Xét về diện tích, sản lượng cũng như bề dày lịch sử canh tác, Đắk Lắk là một không gian rất lớn; điều còn lại là những người làm du lịch Tây Nguyên cần định vị lại sự khác biệt của mình, từ đó suy ngẫm và xác định rõ những hướng đi cần thiết.
Từ góc độ của một nhà quản lí, ông Tiến cho rằng, các nhà sản xuất, doanh nghiệp đầu tư luôn cần một môi trường kinh doanh thuận lợi và rõ ràng. Trách nhiệm của ngành VHTTDL địa phương là cùng với các ngành quản lí trực tiếp tham gia kiến tạo nên môi trường đó.
Theo ông, các lĩnh vực công thương và nông nghiệp, môi trường cần nhận được những tư vấn cụ thể từ các chuyên gia văn hóa, du lịch, qua đó xác định đúng những yếu tố then chốt nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy sản xuất của người nông dân.

Không chỉ dừng ở việc gia tăng giá trị, sản lượng hay chất lượng, nông sản còn cần được nhìn nhận từ chính quá trình canh tác, dưới lăng kính của thị trường và trải nghiệm của du khách. Đó chính là du lịch canh nông, khi được tổ chức một cách nghiêm túc và bài bản.
Đấu nối sản vật nông nghiệp với giá trị di sản
Ông Trần Hồng Tiến nhìn nhận, năm 2025 ấn định một cơ hội lớn cho nông nghiệp Đắk Lắk, khi không gian nông sản được nâng tầm di sản với việc “Tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk” được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Một năm đã đi qua, nhưng ý nghĩa di sản này vẫn đang được cộng đồng cảm nhận như một khái niệm mang tính biểu trưng, chưa gắn chặt với lợi ích kinh tế và chưa góp phần củng cố, phát triển sinh kế cụ thể.
“Phải nhìn một cách thẳng thắn, việc "đánh thức" và lan tỏa thông tin về di sản văn hóa cà phê trong quá trình sản xuất, đầu tư, làm ăn của người nông dân vẫn chưa thật sự đồng đều.
Do đó, từ năm 2026 này, định hướng truyền thông quảng bá của chúng tôi sẽ chuyển mạnh, từ tuyên truyền có tính phong trào sang truyền thông thực hành, phải lấy người nông dân và cơ sở sản xuất canh tác, chế biến làm trung tâm”, ông Tiến nhấn mạnh.

Theo ông Tiến, di sản cà phê cần được “kể” bằng chính câu chuyện lao động, kĩ thuật canh tác, chế biến, văn hóa ứng xử của con người nơi đây, với đất đai và môi trường.
Khi người nông dân hiểu rằng việc giữ gìn phương thức canh tác bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng chính là đang tham gia gìn giữ và làm giàu di sản, thì di sản sẽ tự nhiên đi vào đời sống, trở thành động lực phát triển chứ không phải gánh nặng phong trào hay khẩu hiệu.
Có như vậy, di sản mới thực sự là tài sản, và những giá trị văn hóa du lịch phía sau tự động được nâng lên.
Từ suy nghĩ này, có thể thấy ngành văn hóa du lịch Đắk Lắk sẽ thay đổi cách tiếp cận du lịch canh nông, mạnh dạn đặt ra bài toán đấu nối các hương vị nông sản nông nghiệp với giá trị di sản.
Ông Tiến phân tích: “Giá trị văn hóa di sản và cơ hội hiện thực hóa giá trị đó thông qua hoạt động du lịch, đặc biệt là mảng du lịch gắn với sản xuất, luôn có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại rất chặt chẽ.
Tuy nhiên, để mối quan hệ này phát huy được hiệu quả, vai trò định hướng từ cơ quan quản lí là hết sức quan trọng; cần phải đi từ tổ chức thông tin, kết nối khoa học, sản xuất đến xây dựng các sản phẩm du lịch cụ thể.
Thực tế cho thấy, nếu thiếu định hướng, di sản dễ bị “sân khấu hóa”, còn sản xuất lại vận hành tách rời với du lịch. Nếu phối hợp bài bản, thì khoa học và sản xuất nông nghiệp sẽ trở thành nền tảng quan trọng, để hình thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm có chiều sâu, khác biệt và bền vững”.
Với lợi thế là địa phương có nền sản xuất nông nghiệp mạnh, cơ cấu cộng đồng dân tộc đa dạng, giàu bản sắc, ngành văn hóa du lịch Đắk Lắk có đủ khả năng phát triển du lịch trải nghiệm canh nông bằng cách tổ chức du lịch gắn với trải nghiệm lao động thực thụ. Du khách phải được tham gia vào quy trình sản xuất cùng nông dân.
Tour du lịch phải có câu chuyện di sản gắn với con người và không gian cuộc sống, chứ không chỉ có hình ảnh trưng bày. Được như vậy, theo ông Tiến, câu hỏi vì sao làng Trà Quế hấp dẫn sẽ là điều mà người nông dân Đắk Lắk giải thích được và biết đâu, còn làm tốt hơn!

RSS