Cần lắm nhiều điểm đến trong một điểm đến

VHO- Không ngẫu nhiên sau mỗi chuyến du lịch, thường thấy du khách nội địa nhắc nhiều tới đắt - rẻ, ăn uống, chỗ nào đẹp, nơi nào xấu mà ít bàn luận về những “ngạc nhiên văn hóa”. Và vì sao phải giữ cho được nét văn hóa độc đáo, khác biệt của Việt Nam?

Cần lắm nhiều điểm đến trong một điểm đến - Anh 1

Biểu diễn nghệ thuật ở Hội chợ báo Nhân đạo (Pháp)

Mấy năm trước, tôi tới Pháp dự Lễ hội báo Nhân đạo (l’Humanité) lần thứ 80. Đi trên phố, thấy xe buýt mang biển hiệu “l’Humanité” đang chạy và hỏi thì biết, vì hàng triệu người tham gia nên nhiều năm nay hễ đến ngày này là chính quyền Paris lại lập tuyến xe buýt riêng đưa đón người đến dự.

Hai câu chuyện

Quả thật càng gần đến nơi dòng người càng đông đúc. Rất nhiều người kéo va-li, khoác túi du lịch, đeo túi đựng lều du lịch xếp tròn như cái mâm. Đó là những người sẽ vui chơi cả ba ngày lễ hội. Trên khu đất mênh mông dựng hàng trăm lều bạt màu trắng khá to, vuông vức, chóp nhọn như lều của thổ dân châu Mỹ. Mỗi lều của một nước, hay một cơ sở Đảng Cộng sản Pháp ở địa phương để vừa tự giới thiệu, vừa trưng bày sản vật, bán món ăn truyền thống chế biến tại chỗ nên đi tới đâu trong khu lễ hội cũng ngạt ngào mùi gia vị. Còn người dự thì dựng lều ở mọi chỗ có thể, rồi đi chơi. Sau lễ khai mạc là một số hội thảo chuyên đề. Còn lại là náo nhiệt. Hàng vạn người mua bán, nhảy múa, hò hát, chụp ảnh, ăn uống… Chỗ này mấy cô gái đến từ châu Phi đang múa trống. Chỗ kia là biểu diễn trong nhà. Chỗ nọ diễn ca nhạc ngoài trời, dàn kèn đồng tấu nhạc hành khúc. Lại có anh ngất ngưởng trên cà kheo, chị làm xiếc ngay trên lối đi... Đã đến nhiều lễ hội ở Việt Nam, nhưng chưa bao giờ tôi dự một lễ hội tưng bừng suốt ba ngày như vậy. Chiều cuối cùng ra cổng, mệt lả và hai chân ê ẩm mà vẫn vui, vì được chứng kiến dân chúng bơ phờ ra về, túi bọc lỉnh kỉnh, áo quần nhàu nhĩ, lấm lem vì đêm qua có mưa.  

Lại nhớ gần 20 năm trước, tôi dự lễ hội Roóng Poọc ở Tả Van (Lào Cai). Tiết tháng Giêng, trời rét đậm. Sương mù giăng giăng. Mây trắng như bông dập dềnh che kín những thung lũng dưới vực sâu mấy trăm mét bên mép đường. Dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, trập trùng cao thấp, mờ mờ tỏ tỏ. Mây tan, nhìn xuống thung lũng thấy bóng nhà sàn, dòng suối uốn quanh, trâu bò gặm cỏ. Tả Van bên sườn núi, đường vào bản không biết có từ bao đời mà đá lát đường nhẵn mòn. Trong bản, nhà cửa của người Giáy vừa thoáng, vừa ấm, bếp lửa bập bùng... Lễ hội tổ chức trên những thửa ruộng giữa thung lũng, ồn ào náo nhiệt, nhưng vẫn nguyên vẻ thuần khiết của ngày lễ, ngày vui. Hội do người Giáy tổ chức nhưng người Mông, người Dao và nhiều tộc người khác cũng đến dự. Các cụ trong bản bảo ai tham gia dựng cây nêu người ấy sẽ được may mắn. Mâm cúng đơn sơ trên gò đất giữa cánh đồng, có xôi mầu, trứng mầu và vài ba nông sản khác. Sau lễ là đánh đu, ném còn, bịt mắt bắt dê,… vui và hấp dẫn, không có nhạc xập xoèng, không vui chơi có thưởng. Chị em phụ nữ ngồi bên dãy lù-cở bán lạc rang, bánh chưng gói như bánh giò dưới xuôi, và loại bánh trắng, xốp, nở như bánh bò mà ngày trước các “chú khách” vẫn bán rong ở Hà Nội. Ai đói thì mua, ăn xong lại vào chơi. Cuối ngày mọi người ra về, hồ hởi đúng như đi hội...

Cần lắm nhiều điểm đến trong một điểm đến - Anh 2

Các hoạt động tại Hội chợ báo Nhân đạo diễn ra trong suốt 3 ngày khiến khách mệt lả nhưng vẫn vui

Với hai lễ hội trên, tôi nghĩ dù tổ chức tại hai quốc gia thuộc hai nền văn minh khác nhau thì vẫn có nét chung. Vì nếu trung tâm tinh thần của Lễ hội báo Nhân đạo là khai mạc và hội thảo, thì trung tâm tinh thần của Lễ hội Roóng Poọc cây nêu, bài khấn của thầy cúng cầu mưa thuận gió hòa; rồi nữa là tổ chức ngày nhất định: Lễ hội báo Nhân đạo vào trung tuần tháng Chín dương lịch, Lễ hội Roóng Poọc vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch. Còn lại là vui chơi. Và như vậy có thể thấy, sự hài hòa giữa trung tâm tinh thần - mục đích của phần lễ, với phần hội đa dạng, sinh động làm cho các lễ hội này không chỉ hấp dẫn cộng đồng có mối liên hệ tinh thần, mà hấp dẫn cả người không có mối liên hệ. Và đó là yếu tố cơ bản nhất tạo ra tiền đề để lễ hội trở thành điểm đến của du lịch.

Và một điểm đến

Vài chục năm trước, du lịch như đồng nghĩa với nghỉ mát, an dưỡng, trốn rét vào phía Nam, hoặc trốn nóng ở Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt... Đặc điểm nổi trội của du lịch kiểu này là sự lên ngôi của hưởng thụ vật chất, xả hơi sau lao động mệt nhọc, mục đích khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm hầu như mờ nhạt. Chỉ tới gần đây, khi điều kiện kinh tế khấm khá, du lịch trở thành một tập quán văn hóa đối với người Việt. Họ không chỉ đến các quốc gia gần về địa lý như Trung Hoa, Thái Lan và xa hơn là Pháp, Mỹ, châu Mỹ, châu Phi...

Ở trong nước, người phía Bắc đi Trà Cổ, Hạ Long, Cửa Lò, Sa Pa, Mẫu Sơn, Đà Lạt, Nha Trang,... người phía Nam đến Huế, Đà Lạt, Vũng Tàu, Bà Nà,... và ra miền Bắc. Vào Facebook xem người Việt chụp ảnh “nuôi con Phây” là thấy mọi người du lịch khá nhiều. Tức là nhu cầu du lịch rất phong phú, và việc đáp ứng nhu cầu ấy đã thật sự là một vấn đề xã hội - văn hóa. Song cũng cần nói rằng, nhu cầu văn hóa trong du lịch của nhiều người Việt còn chưa cao. Không ngẫu nhiên sau mỗi chuyến du lịch, thường thấy du khách nội địa nhắc nhiều tới đắt - rẻ, ăn uống, chỗ nào đẹp, nơi nào xấu mà ít bàn luận về những “ngạc nhiên văn hóa”. Chưa kể có người sau chuyến du lịch lên vùng cao còn đưa ra những lời chê bai... Đó là điều đáng tiếc nhưng nên thể tất, vì để một tập quán văn hóa ra đời, định hình và phát triển thì cần có thời gian.

Cần lắm nhiều điểm đến trong một điểm đến - Anh 3

Thích thú với trò ném còn tại lễ hội Roóng Poọc. Ảnh: sapa.hongphong.gov.vn

Trong khi đó, người phương Tây lại xem du lịch là chuyến đi tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm các nền văn hóa - văn minh khác. Dù không phải ai cũng có thể là Christophe Colomb thì các chuyến đi làm phong phú sự hiểu biết là niềm vui người phương Tây hướng tới. Điều này lý giải vì sao trong hàng triệu người đến Lễ hội báo Nhân đạo, nhiều người ở lại vui chơi suốt ba ngày; vì sao có người phương Tây khoác ba-lô rong ruổi đến châu Á, châu Phi, trèo đèo lội suối, ngủ rừng, đến với các tộc người còn kém phát triển... Ở thời hiện đại, nhu cầu đi xa thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của người phương Tây còn cao hơn rất nhiều. Không chỉ người giàu có, mà cả người hưởng trợ cấp xã hội cũng dè sẻn, tích lũy để có một khoản chi phí cho du lịch. Do đó, tùy vào khả năng kinh tế, có người là khách du lịch hạng sang, có người lại là “Tây ba-lô” lang thang trên những nẻo đường, chi phí ăn nghỉ mỗi ngày chỉ khoảng hơn chục đô la Mỹ. Và vì du lịch không hẳn để hưởng thụ vật chất, họ không tới Việt Nam để được uống Wisky, vang Bordeaux hay bia Heiniken, ở khách sạn tiện nghi - những thứ không cần đi nửa vòng Trái đất họ mới được hưởng thụ mà ngay tại đất nước họ có rất nhiều. Để được tiếp xúc, tìm hiểu về văn hóa, họ tìm đến bản làng vùng cao heo hút ở Việt Nam để ngủ nhà sàn, uống rượu ngô, ăn mèm mén, múa hát trong đêm “xoè”, khoác chiếc khăn, tấm áo làm từ thổ cẩm Mông, thổ cẩm Chăm...

Cuối năm 2019, qua việc World Travel Awards (Giải thưởng du lịch thế giới) trao giải thưởng “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á” cho Việt Nam, sau đó là giải thưởng “Điểm du lịch di sản hàng đầu thế giới năm 2019” cho Việt Nam, có thể thấy du lịch Việt Nam đã có một bước phát triển vượt bậc, được thế giới ghi nhận một cách khách quan. Nhưng nhìn trên diện rộng, Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác để trở thành điểm đến thật sự hấp dẫn, có sức thu hút lâu dài. Viết đến đây tôi lại nhớ năm 2012 ở London (Anh), sau khi cầm cuốn hộ chiếu của chúng tôi, anh nhân viên lễ tân cười toe toét, rồi vừa chỉ tay lên trời vừa hô “Bùm bùm bùm, America!”. Chúng tôi cười lăn, và giải thích để anh biết ở Việt Nam hết chiến tranh rồi, nên chúng tôi mới kéo vali vi vu ở đây.

Để Việt Nam tiếp tục là điểm đến về du lịch, ngành Du lịch cần có kế hoạch quảng bá về Việt Nam trên diện rộng, để chí ít trên thế giới không còn những người như anh nhân viên lễ tân ở Anh kia vẫn mặc định “nói đến Việt Nam là nói đến chiến tranh”, mà cần giúp họ hiểu “Việt Nam là một điểm đến về du lịch hàng đầu châu Á và thế giới”. Hơn thế nữa, cần lưu ý một điều quan trọng là vì du khách có nhu cầu đến với các điểm du lịch có nét riêng khác nhau, nên trong cấu trúc nội tại của “điểm đến Việt Nam” cần hình thành một hệ thống điểm đến, sản phẩm, dịch vụ du lịch chuyên nghiệp để phục vụ và thu hút du khách.

Có thể nói hiện nay, đây là vấn đề chưa được lưu tâm đúng mức, nếu không nói bị thả nổi theo xu hướng mạnh ai người nấy làm, hiểu thế nào thì làm thế ấy. Như với thổ cẩm chẳng hạn, sản phẩm này được bày bán ở mọi điểm du lịch từ Bắc vào Nam, và tất cả đều hao hao nhau. Chủ yếu là thổ cẩm công nghiệp, dệt bằng sợi ni lông, phối màu và hoa văn “na ná thổ cẩm”. Với sản phẩm như thế, người làm du lịch dù muốn cũng không thể giúp du khách phân biệt sự khác nhau giữa thổ cẩm Thái, thổ cẩm Mông, thổ cẩm Dao với thổ cẩm Chăm, thổ cẩm Ba Na, thổ cẩm Mạ... Từ đó, sự độc đáo của thổ cẩm thể hiện từ quan niệm màu sắc đến hoa văn tinh tế được kỷ hà hóa để chuyển tải những dấu hiệu là biểu tượng tinh thần của mỗi tộc người chưa được giới thiệu chi tiết, mà chủ yếu là quảng cáo để bán các sản phẩm làm từ thổ cẩm như túi, ví, khăn, áo…

NGUYỄN HÒA

Ý kiến bạn đọc