Để nghĩa trang liệt sĩ trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh:
Kỳ 3 - Những người còn mang “món nợ”...
VHO - Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với nhiều CCB, ký ức về đồng đội chưa bao giờ nguôi. Có người trở về từ Thành cổ Quảng Trị với thân thể lành lặn nhưng cả đời mang trong lòng những tiếng gọi dưới hầm tối.

Có người lặng lẽ tìm hài cốt đồng đội nơi núi đá Vị Xuyên. Có người đi vận động từng nguồn lực, từng tấm lòng để những nghĩa trang liệt sĩ ngày càng khang trang. Với họ, tri ân không phải là nghi thức của một ngày kỷ niệm, mà là mệnh lệnh từ lương tâm.
Năm 2022, tại lễ khánh thành việc chỉnh trang, nâng cấp, tôn tạo Nghĩa trang Hàng Keo, thuộc Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà tù Côn Đảo, nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, cựu tù chính trị Côn Đảo từng xúc động chia sẻ với phóng viên Văn Hóa: “Đã bao lần ra Côn Đảo thắp nén tâm hương dâng lên anh linh các bậc lão thành cách mạng, các chí sĩ yêu nước, các đồng đội đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhưng với lần này tôi mang một niềm xúc động riêng.
Di tích lịch sử Nghĩa trang Hàng Keo như câu nói chứa chất đầy sự ai oán của người tù khi tiễn bạn: Côn Lôn đi dễ khó về, Sống nương núi Chúa, thác về Hàng Keo”, nơi an nghỉ của hàng nghìn tù nhân chính trị yêu nước từ đầu thế kỷ XX cho đến giai đoạn khủng bố trắng trong những năm 1940-1941, giờ đã được nâng cấp, chỉnh trang theo hướng là một công viên lịch sử, văn hóa và tâm linh. Đây là ý nguyện của các cựu tù chính trị Côn Đảo và người dân trong suốt bao năm qua”.
Nguyên Phó Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh: “Di tích Nghĩa trang Hàng Keo đã đẹp lên và tôi mong sẽ đẹp lên nữa. Tôi cũng mong các cấp, các ngành quan tâm đầu tư hơn nữa để Nghĩa trang Hàng Keo và nhiều nghĩa trang khác trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh nhằm nhắc nhớ các thế hệ trẻ về truyền thống vẻ vang của các bậc cha anh đi trước, để họ hiểu hơn về một chứng tích tội ác của thực dân, đế quốc”.
Có “hội chứng” mang tên: Nhớ đồng đội
Trò chuyện với phóng viên Văn Hóa, CCB Nguyễn Trọng Bường nhiều lần nhắc đến hai chữ “may mắn”. Ông nói mình may mắn vì còn sống. May mắn vì sau những ngày tháng máu lửa ở Thành cổ Quảng Trị, ông còn có thể trở về để kể lại cho con cháu hôm nay.
Hơn nửa thế kỷ đã qua, người lính ấy vẫn nhớ từng người còn sống, người đã mất. Với ông, mỗi lần trở lại Thành cổ là một lần gặp lại đồng đội, dù nhiều người đã không còn tên trên mặt đất. “Nhiều đêm nằm trằn trọc mãi không ngủ được vì nhớ đồng đội”, ông Bường xúc động nói.
Chia sẻ của CCB Nguyễn Trọng Bường không phải là ký ức riêng của một người. Đó là một phần của ký ức chung mà nhiều cựu chiến binh vẫn mang theo suốt đời. Có những người lính già năm nào giờ tóc đã bạc, chân đã chậm, nhưng vẫn nhớ chính xác một tọa độ, một điểm cao, một bìa rừng, một khúc sông.
Họ nhớ vì ở đó có đồng đội của họ nằm lại. Họ nhớ vì có những lời hẹn chưa kịp nói. Họ nhớ vì trong trận đánh cuối cùng, có người đã quay lại cứu bạn và không trở về.
Nỗi nhớ ấy được CCB, nhà thơ, nhà báo Lê Bá Dương gọi là “hội chứng nhớ đồng đội”. “Hội chứng của chúng tôi khác với lính Mỹ. Hội chứng của họ là bất mãn, tiêu cực, vì họ nhận thấy tính phi nghĩa khi tham gia vào cuộc chiến này. Còn hội chứng của chúng tôi là hội chứng của hoài niệm, nhớ thương”, tác giả Lời người bên sông chia sẻ.
Ký ức ùa về, người lính Lê Bá Dương miên man nhớ lại những ngày sát cánh cùng đồng đội trên chiến trường Quảng Trị, nơi ông đã xem như quê hương thứ hai.
“Nhiều người vẫn nghĩ tôi chỉ là lính Thành cổ, nhưng thực ra tôi vào Quảng Trị từ năm 1968, trải qua gần năm năm ở chiến trường này. Những năm tháng ấy ác liệt lắm. Tôi từng chứng kiến rất nhiều hy sinh, mất mát của đồng đội. Bản thân tôi cũng mười bốn lần bị thương. Có những cảnh tượng không bao giờ quên được”, ông nói.
“Nhiều gia đình liệt sĩ khi gặp tôi hay cảm ơn vì thấy tôi đi tìm hài cốt, thắp hương, tổ chức tri ân đồng đội. Nhưng tôi thường nói: Đừng cảm ơn tôi. Nếu bố, bác, anh của các bạn còn sống, chắc chắn họ cũng sẽ làm như tôi. Chúng tôi còn sống tức là sống thay phần những người đã nằm xuống. Anh em không còn cơ hội làm nữa thì mình còn sống, mình làm thay những việc mà nếu còn sống, các anh em cũng sẽ làm. Vì vậy, với tôi, đó là việc bình thường của người lính còn sống”, CCB Lê Bá Dương chia sẻ.

“Điều đồng đội sợ nhất là bị lãng quên”
CCB Lê Bá Dương bày tỏ niềm vui và sự ủng hộ với ý tưởng nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ, nhất là ở cấp phường, xã, thành “công viên lịch sử, văn hóa tâm linh”.
Ông cho rằng mỗi ngôi mộ, mỗi nghĩa trang liệt sĩ là nơi truyền cảm hứng cho thế hệ sau. Không nên chỉ nghĩ nghĩa trang là nơi để thắp hương, viếng rồi về. Ở đó phải có câu chuyện, có không gian để người trẻ đến, lắng nghe, suy ngẫm và hiểu vì sao hôm nay mình được sống trong hòa bình.
Từ nén hương của người CCB trước mộ đồng đội đến ý tưởng hình thành những công viên lịch sử, văn hóa tâm linh, tất cả đều gặp nhau ở một điểm: Làm sao để sự tri ân không chỉ là cảm xúc lúc đó mà trở thành một phần bền vững trong đời sống văn hóa đương đại.
Ông cũng chia sẻ kinh nghiệm trước đây trong khuôn viên một trường học tại xã Triệu Đông (Quảng Trị) có một ngôi mộ anh hùng liệt sĩ Triệu Ngọc Luân. Gia đình đã xin phép đưa hài cốt về, nhưng nhà trường vẫn giữ lại phần mộ tưởng niệm để nhắc nhở học sinh. “Tôi thấy nếu chỉ để ngôi mộ lặng lẽ thì thật lạnh lẽo. Vậy nên tôi đã vận động để xây thành hoa viên nho nhỏ, có tượng đài, có cây, có hoa, có không gian cho học sinh sinh hoạt, tìm hiểu, thì nó sẽ khác. Nó không còn lạnh nữa, mà trở thành nơi giáo dục rất tự nhiên”, ông nói.
Đó cũng là điều nhiều CCB trăn trở. Họ không muốn nghĩa trang liệt sĩ chỉ đông người vào dịp 27.7, rồi sau đó lại trở về với khoảng lặng. Họ mong nơi đồng đội yên nghỉ phải là địa chỉ đỏ thường xuyên, nơi học sinh, đoàn viên, thanh niên, người dân có thể tìm về để hiểu lịch sử không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng sự rung động trước từng hàng bia mộ.
“Tôi muốn nói rằng, những người lính khi ra trận ai cũng muốn sống. Nhưng khi cần hy sinh, họ sẵn sàng hy sinh. Điều họ sợ nhất không phải là chết. Điều họ sợ nhất là các thế hệ sau quên đi. Vì vậy, các bạn trẻ hãy cố gắng giữ lửa. Muốn nhìn nhận lịch sử đúng thì phải hiểu sự hy sinh của những người đã nằm xuống. Phải biết trên mỗi tấc đất hòa bình hôm nay có mồ hôi, máu xương của bao thế hệ.
Bản thân tôi cũng chỉ là người truyền lại ngọn lửa của đồng đội đã nằm xuống. Tôi chỉ sợ mình truyền không đủ, để đồng đội dưới kia phải ngậm ngùi”, CCB Lê Bá Dương bộc bạch.
Món nợ chưa trả hết
Điều đáng quý ở nhiều CCB hôm nay là họ không chỉ kể lại những gì đã qua. Họ còn đặt câu hỏi cho hiện tại. Làm thế nào để các nghĩa trang liệt sĩ không chỉ sạch đẹp mà còn có khả năng kể chuyện? Làm thế nào để tên tuổi, quê quán, đơn vị, hoàn cảnh hy sinh của liệt sĩ được lưu giữ đầy đủ hơn? Làm thế nào để học sinh đến nghĩa trang không chỉ dâng hương mà có thể hiểu ở đó đã diễn ra điều gì, đất nước đã mất gì, hòa bình đã được đánh đổi ra sao?
Trao đổi với phóng viên Văn Hóa, CCB Lương Quốc Dũng trầm ngâm khi cho biết ở nhiều nghĩa trang liệt sĩ còn thưa vắng. Nếu có chủ trương, có phong trào, có vận động nguồn lực để nâng cấp trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh trên quy mô toàn quốc thì đây là việc rất nên làm và đáng làm.
Đó là yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, phát huy giá trị các công trình ghi công liệt sĩ trong giai đoạn mới, đòi hỏi sự chung tay của chính quyền địa phương, ngành văn hóa, ngành nội vụ, các đơn vị quân đội, hội CCB. “Nhưng lực lượng trẻ là rất quan trọng, vì chính các cháu mới là người tiếp nhận và giữ gìn ký ức ấy lâu dài”, ông Dũng góp ý.
Một nghĩa trang liệt sĩ khang trang là cần thiết. Nhưng một nghĩa trang có dữ liệu đầy đủ, có chỉ dẫn rõ ràng, có không gian thuyết minh, có hoạt động giáo dục thường xuyên, có sự tham gia của nhà trường, đoàn thể, cộng đồng, CCB và thân nhân liệt sĩ mới thật sự trở thành “công viên ký ức”.
Ở đó, CCB có thể là người dẫn chuyện. Người quản trang là người giữ lửa. Thầy cô giáo là người kết nối. Đoàn viên thanh niên là lực lượng chăm sóc và lan tỏa. Doanh nghiệp, tổ chức xã hội là nguồn lực đồng hành. Còn mỗi người dân là một chủ thể của sự tri ân.
Khi được hỏi muốn gửi gắm điều gì với thế hệ trẻ, CCB Lê Bá Dương và Nguyễn Trọng Bường đều không nói những điều lớn lao. Những người lính Thành cổ năm xưa chỉ mong người trẻ hiểu rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có.
Vì thế tri ân không chỉ là thắp một nén hương trong ngày 27.7. Tri ân là sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh ấy. Có lẽ đó cũng là tiếng nói chung của nhiều CCB. Họ không đòi hỏi sự đền đáp cho riêng mình.
Điều khiến họ đau đáu là đồng đội. Những người đã nằm lại trong lòng đất, trong rừng sâu, khe đá, ven sông, dưới chân thành cũ; có người đã có tên trên bia mộ, có người vẫn chưa tìm thấy hài cốt, có người còn nằm trong những ngôi mộ chưa xác định danh tính.
Bởi vậy, với họ, mỗi nghĩa trang liệt sĩ được tu bổ khang trang hơn là một niềm an ủi. Mỗi phần mộ được chăm sóc chu đáo hơn là một lời hứa được giữ. Mỗi đoàn học sinh đến thắp hương, lắng nghe câu chuyện chiến tranh là một lần ký ức được nối dài.
Món nợ với những người đã hy sinh là món nợ không thể trả hết. Nhưng có thể trả từng phần bằng sự tri ân, bằng trách nhiệm, bằng những công trình được chăm chút, bằng những không gian tưởng niệm có sức sống, bằng việc không để bất kỳ ai trong số họ bị lãng quên.
(Còn tiếp)

RSS