Mạnh dạn mô hình kinh tế mới giúp người dân vùng cao Nghệ An tăng thu nhập
VHO - Từ nuôi dúi, nuôi ong, trồng cây ăn quả đến phát triển chè Shan tuyết, cây dược liệu và du lịch cộng đồng, nhiều người dân ở miền Tây Nghệ An đang tìm cách biến những lợi thế sẵn có của quê hương nhằm nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện đời sống.
Đổi cách làm để nâng cao thu nhập
Ở xóm Hoa Sơn 3, xã Vĩnh Tường, câu chuyện làm kinh tế của anh Trần Văn Kiên, sinh năm 1978, bắt đầu từ một câu hỏi quen thuộc với những người trở về quê sau nhiều năm làm ăn xa: “Trồng cây gì, nuôi con gì để có thể sống được trên chính mảnh đất của mình?”.
Trở về quê năm 2023, anh Kiên không vội bắt tay vào sản xuất mà dành nhiều tháng tìm hiểu các mô hình phù hợp. Giữa năm 2024, sau khi cân nhắc, anh đầu tư chuồng trại và bắt đầu nuôi dúi, với con giống nhập từ các tỉnh, thành phía Bắc.

Lần đầu thử sức, anh chỉ nuôi 20 cặp. Sau khoảng 10 tháng, đàn dúi bắt đầu sinh sản. Mỗi cặp có thể sinh 2-3 lứa mỗi năm, mỗi lứa khoảng 5 con. Từ số lượng ban đầu, đàn dúi dần phát triển lên hàng trăm cặp.
Nuôi dúi không phải công việc quá nặng nhọc, nhưng lại đòi hỏi sự tỉ mỉ. Loài vật này khá nhạy cảm với nhiệt độ, nhất là trong những ngày nắng nóng. Vì vậy, anh Kiên phải bố trí hệ thống quạt làm mát, thậm chí lắp điều hòa cho khu vực nuôi. Thức ăn chủ yếu là tre, ngô, mía..., những nguyên liệu tương đối sẵn ở địa phương nên chi phí chăn nuôi được giảm bớt.
“Nuôi dúi không quá khó, nhưng phải biết cách chăm sóc và phòng bệnh. Thời tiết phù hợp nhất là những tháng mát mẻ cuối thu, đầu đông, cũng là thời điểm dúi sinh sản tốt”, anh Kiên chia sẻ.
Sau khoảng một năm, dúi có thể xuất bán làm thương phẩm. Tuy nhiên, gia đình anh xác định hướng chính là cung cấp dúi giống. Một cặp dúi giống hiện có giá khoảng 8 triệu đồng.
Từ khi bắt đầu thu hoạch vào tháng 10.2025 đến nay, anh Kiên cho biết đã đạt doanh thu khoảng 500 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí con giống, thức ăn và các khoản đầu tư, lợi nhuận khoảng 400 triệu đồng.
Là người đầu tiên triển khai mô hình nuôi dúi trên địa bàn huyện Anh Sơn cũ, kết quả bước đầu của anh Kiên đang mở thêm một lựa chọn phát triển kinh tế cho người dân địa phương.

Bà Bùi Thị Phượng, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Tường cho biết: "Mô hình nuôi dúi của gia đình anh Kiên cho hiệu quả ngay từ lứa đầu, tạo thêm niềm tin để người dân mạnh dạn tìm hướng làm ăn mới. Từ mô hình này, một số hộ khác đã tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm và làm theo, từng bước mở rộng cách nuôi dúi trên địa bàn".
Tại xã Môn Sơn, người dân chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp, chăn nuôi và kinh doanh nhỏ lẻ. Xã có diện tích hơn 529km², dân số 18.836 người, hiện còn 638 hộ nghèo, chiếm 15,35%.
Trong điều kiện đó, việc đưa thông tin, chính sách và kỹ thuật sản xuất đến người dân được chú trọng. Tỉ lệ tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách đạt 85-90%, thông tin kinh tế - xã hội địa phương khoảng 80-85%.
Từ đó, nhiều mô hình được triển khai như nuôi ong nội, cá bọp, dúi, trồng na, hồng xiêm và chăn nuôi bê địa phương. Môn Sơn cũng duy trì nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái, gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại Pù Mát, sông Giăng và Pha Lài.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xã giải quyết việc làm cho 860 lao động, trong đó 50 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và 810 người làm việc tại các khu công nghiệp trong, ngoài tỉnh.
Cùng với tạo việc làm, các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm nghèo bền vững và hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục được triển khai. Tổng nguồn kinh phí được phân bổ cho các chương trình hơn 31,6 tỉ đồng; đến ngày 30.6.2026 đã giải ngân hơn 19 tỉ đồng.
Theo ông Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Môn Sơn, địa phương đang khai thác lợi thế đất đai, khí hậu và điều kiện sẵn có để phát triển nhiều mô hình phù hợp, qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Cùng với hỗ trợ sản xuất, xã chú trọng đưa thông tin, chính sách và kỹ thuật đến các bản, giúp người dân có thêm cơ sở lựa chọn hướng làm ăn phù hợp.
Từ những hành động thiết thực này, người dân xã Môn Sơn đang có thêm nhiều lựa chọn để phát triển kinh tế, từ chăn nuôi, trồng cây, làm nghề truyền thống đến tham gia du lịch cộng đồng.
Tìm cơ hội ngay trên quê hương
Tại xã Huồi Tụ, câu chuyện phát triển kinh tế lại bắt đầu từ những lợi thế rất riêng của vùng núi cao.
Xã Huồi Tụ nằm ở địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn, cách trung tâm tỉnh Nghệ An gần 300km. Toàn xã có 1.041 hộ với 5.186 nhân khẩu, gồm các dân tộc Thái, Khơ Mú, Mông và Kinh cùng sinh sống. Tỉ lệ hộ nghèo còn 54,7%, hộ cận nghèo 24,6%.
Theo ông Dềnh Bá Lồng, Chủ tịch UBND xã Huồi Tụ: "Với một địa bàn còn nhiều khó khăn, việc bảo đảm quyền của người dân trước hết được cụ thể hóa bằng việc giúp họ tiếp cận tốt hơn với những điều kiện thiết yếu và có cơ hội cải thiện cuộc sống".

Xã Huồi Tụ đặt mục tiêu giảm tỉ lệ hộ nghèo khoảng 3,5% mỗi năm. Để giảm nghèo bền vững, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân là yêu cầu quan trọng.
Toàn xã có 1.394 lao động, trong đó 1.049 người đang làm việc trong nước. Tuy nhiên, chỉ 63 người làm việc trong tỉnh, trong khi 986 người làm việc ngoài tỉnh. Bên cạnh đó, còn 346 lao động thất nghiệp, có nhu cầu tìm việc.
Những con số này cho thấy nhu cầu tạo việc làm tại chỗ ở Huồi Tụ vẫn rất lớn. Và một trong những cách mà địa phương lựa chọn là phát huy những sản phẩm đã gắn với vùng đất, khí hậu và tập quán sản xuất của người dân. Trong số đó, chè Shan tuyết được xem là một lợi thế nổi bật.
Toàn xã hiện có 288,1ha chè Shan tuyết đang cho thu hoạch, sản lượng chè búp tươi khoảng 330-350 tấn mỗi năm. Các hợp tác xã đã tham gia sản xuất, thu mua và từng bước phát triển sản phẩm chè.
Chị Lương Thị Hoa, Chủ tịch Hợp tác xã Nông nghiệp sản xuất chè hữu cơ Huồi Tụ cho biết, mỗi năm hợp tác xã sản xuất gần 150 tấn chè, tạo việc làm cho lao động địa phương với mức thu nhập khoảng 7 triệu đồng/người/tháng.
Ở nơi cơ hội việc làm tại chỗ còn hạn chế, những đồi chè vì thế không chỉ tạo ra sản phẩm hàng hóa. Phía sau mỗi vụ thu hái là công việc và nguồn thu nhập của người dân, là thêm một lựa chọn để họ gắn bó với quê hương.
Tuy nhiên, phát triển cây chè cũng đối mặt không ít thách thức. Bão làm hư hại nhiều diện tích, trong khi giá bán còn thấp. Hợp tác xã đang tính đến việc đa dạng hóa kênh tiêu thụ, mở rộng thị trường và từng bước xây dựng thương hiệu chè Huồi Tụ.

Từ cây chè, người dân tiếp tục tìm đến những sản phẩm khác phù hợp với điều kiện tự nhiên. Dưới tán rừng, bo bo, sa nhân tím và lá giang được khai thác, trồng và chăm sóc; cùng với đó là các mô hình chăn nuôi bò và gà đen.
Toàn xã có khoảng 30ha bo bo dưới tán rừng, sản lượng ước gần 100 tấn quả tươi, chế biến được khoảng 20-25 tấn quả khô. Với giá trung bình khoảng 50.000 đồng/kg quả khô, cây dược liệu này đang tạo thêm nguồn thu cho người dân.
Sa nhân tím cũng mở ra một hướng đi tương tự. Xã đã hỗ trợ 77 hộ trồng hơn 100.000 cây. Gia đình ông Hờ Pà Chù ở bản Huồi Khe hiện có thu nhập trung bình 65-70 triệu đồng/năm từ cây sa nhân tím.
Với lá giang, việc thu hái và bảo vệ cây dưới tán rừng cũng mang lại thêm nguồn thu cho nhiều hộ. Giá bán trung bình khoảng 15.000 đồng/kg, một số hộ có thể đạt thu nhập 50-60 triệu đồng/năm.
Điều đáng nói là những cây trồng này không buộc người dân phải rời bỏ không gian rừng để sản xuất. Để lá giang phát triển, những cây gỗ tạo bóng mát vẫn phải được giữ lại. Lợi ích kinh tế vì thế gắn với việc bảo vệ rừng, tạo thêm động lực để người dân gìn giữ môi trường sống.
Cùng với cây trồng, chăn nuôi tiếp tục là nguồn thu quan trọng. Mỗi năm địa phương có khoảng 3.000 con bò vàng được nuôi, hơn 500 con xuất bán với giá 12-15 triệu đồng/con. Gà đen cũng trở thành mô hình được nhiều hộ lựa chọn, với quy mô phổ biến 100-200 con/hộ.
Một số hộ phát triển đàn lớn như gia đình ông Nguyễn Hữu Tranh với khoảng 10.000 con/năm, ông Lỳ Bá Xênh khoảng 4.000 con/năm, giá bán khoảng 150.000 đồng/kg.
Từ chuyến khảo sát, tìm hiểu thực tế phục vụ công tác tuyên truyền, đấu tranh và bảo vệ nhân quyền tại các xã Huồi Tụ, Môn Sơn và Vĩnh Tường, ông Nguyễn Bá Hảo, Phó Giám đốc Sở VHTTDL Nghệ An cho biết: "Thực tế tại các địa phương, có thể thấy quyền con người ở vùng cao được cụ thể hóa từ những nhu cầu thiết yếu như việc làm, thu nhập, thông tin, giáo dục, y tế, nước sạch và gìn giữ văn hóa".
Mỗi nơi có một cách làm phù hợp, xã Vĩnh Tường phát triển nuôi dúi, xã Môn Sơn đa dạng mô hình chăn nuôi, trồng trọt, nghề truyền thống và du lịch cộng đồng, còn xã Huồi Tụ khai thác chè Shan tuyết, cây dược liệu, bò vàng, gà đen để tạo thêm thu nhập.
Những mô hình mới, đa dạng đang giúp người dân có thêm lựa chọn để làm ăn, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống ngay trên quê hương. Khi cuộc sống từng bước tốt hơn, người dân cũng thêm gắn bó với bản làng, cùng nhau giữ gìn môi trường, văn hóa và góp sức xây dựng quê hương ngày càng bình yên, phát triển.

RSS