Ấn tượng với màn tái hiện lễ cưới truyền thống của người Dao
VHO - Từ phong tục chọn số lẻ đưa dâu đến các nghi thức trừ tà, bái tổ tiên, đám cưới truyền thống của đồng bào Dao Đỏ ở xã Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng) luôn giữ trọn bản sắc qua nhiều thế hệ.
Trong không khí rộn ràng của kỳ nghỉ lễ 2.9, ngày 1.9.2026, không gian Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở nên rực rỡ và nhộn nhịp với chương trình tái hiện Lễ cưới truyền thống của dân tộc Dao (nhánh Dao Đỏ).

Hoạt động do Trung tâm Văn hóa và Thông tin Du lịch tỉnh Cao Bằng phối hợp với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam tổ chức, thu hút đông đảo du khách tới tham quan, trải nghiệm.



Đây là điểm nhấn quan trọng trong chuỗi sự kiện chào mừng Tết Độc lập, góp phần thiết thực vào việc bảo tồn, tôn vinh và quảng bá các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đến với du khách thập phương.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, nơi có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống đoàn kết, chung sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Mỗi dân tộc luôn gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của mình, góp phần tô thắm cho bức tranh văn hóa các dân tộc tỉnh Cao Bằng.



Trong đó, dân tộc Dao ở Cao Bằng có hai nhánh là Dao Đỏ và Dao Tiền. Cộng đồng người Dao Đỏ chiếm đa số, họ sống ở ven chân núi với nghề chủ yếu là làm nương, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Được kế thừa kho tàng văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc, người Dao Đỏ truyền giữ các hoạt động nghi lễ của việc cưới hỏi từ đời này sang đời khác.
Từ xa xưa, cưới hỏi là việc hệ trọng trong đời người, mang tính xã hội sâu sắc, thể hiện trình độ văn minh, bản sắc văn hóa cùng trí tuệ, đạo lý và tình cảm của nhân dân các dân tộc nói chung, người Dao Đỏ nói riêng.


Lễ cưới là một trong những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng quan trọng nhất trong đời sống của người Dao Đỏ tại xã Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Hằng năm, mỗi độ sang thu, khi lúa đã gặt, thóc đã vào bồ, ngô đã treo trên gác bếp là thời điểm đồng bào tổ chức lễ cưới hỏi cho con cái lúc trưởng thành.
Nếu như trước đây, việc chọn vợ gả chồng thường do bố mẹ "đặt đâu con ngồi đấy" thì ngày nay, người Dao Đỏ đã thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự do trong hôn nhân.
Tiến trình lễ cưới được bắt đầu khi đôi trai gái tìm hiểu nhau và quyết định tiến tới hôn nhân. Lúc này, bố mẹ nhà trai trực tiếp sang nhà gái thưa chuyện.



Nếu mọi điều tốt đẹp, nhà trai lấy mệnh cô gái đọ tuổi, thấy hợp thì tiến hành lễ ăn hỏi. Đoàn nhà trai sang nhà gái gồm bố mẹ, quan lang và anh em họ hàng thân thích, đi theo số lượng người lẻ như 9, 11 hoặc 13 người. Theo quan niệm của người Dao, đi số lẻ để khi đón thêm cô dâu sẽ thành số chẵn; nếu đi số chẵn, khi đón cô dâu về sẽ thành số lẻ, tượng trưng cho sự chia ly, không suôn sẻ và thiếu may mắn cho đôi trẻ.
Lễ vật nhà trai đem sang nhà gái gồm một đôi gà, rượu, thịt lợn và trang sức cho cô dâu theo thỏa thuận từ trước, bao gồm 5 đồng bạc trắng cho bố mẹ cùng một đôi vòng cổ, một đôi vòng tay, một cái xà tích, một bộ áo yếm và một đôi hoa tai.
Sau khi quan lang nhà gái kiểm tra xong lễ vật, họ sẽ viết vào hôn tự bằng chữ Nho rồi hai bên cùng ký, mỗi bên giữ một bản trước khi mẹ chồng trao lễ vật cho mẹ vợ.



Trước khi nhà trai ra về, nhà gái khiêng một cái bàn ra giữa cửa, đặt lên đó hai chai rượu, 6 cái chén và một bát ngô. Đại diện mỗi bên gồm 3 người con trai ra đứng hai bên bàn để mời rượu, chúc tụng nhau.
Nhà trai để lại một phong bao lì xì gói bằng giấy đỏ đặt lên bát ngô với ý nghĩa để lại lộc cho nhà gái, sau đó ra về. Khoảng thời gian từ lúc ăn hỏi đến khi ăn cưới kéo dài khoảng 6 tháng để cô gái thêu thùa trang phục.
Theo ngày lành tháng tốt đã định, lễ cưới chính thức được diễn ra. Trong ngày cưới, cô dâu mặc trang phục truyền thống, cổ và tay đeo vòng bạc, đầu trùm chiếc khăn đỏ to che kín mặt nhằm tránh mặt trời thấy, bởi người Dao quan niệm nếu để thấy mặt trời thì cô dâu sẽ bị mất vía, không gặp may mắn trong cuộc đời sau này.




Trước khi cô dâu ra cửa, đoàn đưa dâu cùng cô dâu đứng trước bàn thờ gia tiên để ông quan lang và hai ông phụ lễ làm thủ tục thưa với tổ tiên về việc cưới xin, đồng thời xin phép đưa dâu và cầu mong tổ tiên phù hộ đoàn đi đường may mắn, không bị ma quỷ gàn đường.
Đoàn nhà gái đưa dâu sang nhà trai được gọi chung là đoàn Săn cha, mọi người từ trẻ đến già đều ăn mặc chỉnh tề theo trang phục truyền thống.
Dọc đường đi, cô dâu được phù dâu cầm ô che nhằm thể hiện sự đầy đủ, đàng hoàng khi đi làm dâu. Nếu gặp miếu trên đường, đoàn phải dừng lại vái lạy; nếu qua mương, qua suối phải mua hoa bằng cách thả tiền giấy, đồng xu; nếu phải lội nước thì cô dâu được người cõng qua. Suốt chặng đường đi qua các bản làng, người thổi kèn liên tục cất lên các bài ca chào bản làng và mừng đám cưới.




Khi đoàn nhà gái về gần đến nhà trai, tiếng kèn thổi lên báo hiệu. Nhà trai ngay lập tức cử một đoàn kèn trống ra đón, thổi bản nhạc chúc tụng và tiến về phía nhà gái.
Thầy chủ lấy ra hai bông hoa bạc cài lên mũ cô dâu thay cho lời chúc phúc xây dựng gia đình gặp nhiều may mắn. Lúc hai bên nhà trai và nhà gái gặp nhau, người thổi kèn hai bên thổi thêm một đoạn rồi cúi chào nhau 3 lần. Đội kèn nhà trai tiếp tục thổi vòng quanh đoàn nhà gái 6 lần.
Vòng đầu tiên xuất phát từ trước mặt ông quan lang, vòng theo chiều kim đồng hồ, đến gần nơi xuất phát thì dừng lại và quay ngược lại với ý nghĩa giữ cửa mở, không khép kín để đoàn nhà gái có thể quay về. Đồng thời, việc thổi kèn vòng quanh cũng mang ý nghĩa đón chào những người trong đoàn nhà gái chính thức trở thành khách quý được mời vào nhà.



Sau lần thổi cuối cùng, người thổi kèn mời đoàn nhà gái bước vào. Khi đến trước cửa nhà trai, cô dâu đứng quay lưng vào nhà, đoàn Săn cha đứng xung quanh và chưa được vào ngay vì lo ngại các loại ma ngoại thần bám theo trên đường đi.
Lúc này, thầy mo tiến hành làm lễ trừ ma quỷ bằng nghi thức phù phép thổi nước lá bưởi qua đầu cô dâu, tiếp đó là nghi thức cắt tiết gà nhằm loại bỏ những điều không may mắn.
Nhà trai cử một cô gái ra rửa chân, thay giày mới cho cô dâu với ý nghĩa để lộc lại cho cô gái. Cô dâu sau đó bước qua chậu nước có đặt con dao vừa cắt tiết gà để đi vào nhà.

Bước vào bên trong, cô dâu và chú rể đứng trước bàn thờ gia tiên thực hiện nghi lễ bái tổ tiên (thập nhị bái). Đôi tân lang - tân nương thành kính thực hiện 12 lượt bái, cầu mong tổ tiên phù hộ gia đình bình an, làm ăn thuận lợi, con cháu đông đúc.
Ngay sau đó, chủ hôn làm lễ trình báo việc gia đình có thêm người mới, mong tổ tiên phù hộ cho con cái làm ăn suôn sẻ, gia đình đầm ấm, sung túc và khỏe mạnh. Sau khi hoàn tất các nghi thức đón dâu và lễ tổ tiên, gia đình mời anh em họ hàng cùng thụ hưởng cơm mừng và hát đối đáp giao duyên.
Đám cưới truyền thống của người Dao Đỏ không chỉ đơn thuần là một nghi lễ hôn nhân mà còn là sinh hoạt văn hóa chứa đựng các giá trị lịch sử, văn hóa và giáo dục sâu sắc. Việc bảo tồn trọn vẹn nét đẹp này góp phần thiết thực vào việc bảo tồn những giá trị văn hóa của các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

RSS