Quyết liệt triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:

Từ bảo vệ không gian phát triển đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

VHO - Tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở một tư duy mới về đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Đó là nền đối ngoại không chỉ bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định và lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong kiến tạo năng lực phát triển, lan tỏa bản sắc văn hóa, nâng tầm vị thế đất nước và đóng góp có trách nhiệm vào cộng đồng quốc tế.

Từ bảo vệ không gian phát triển đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia - ảnh 1
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

 Đối ngoại là sự vươn xa của nội lực quốc gia

Thế giới đang chuyển động nhanh, mạnh và khó lường hơn bao giờ hết. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột khu vực, biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, tiêu chuẩn xanh, thương mại số… đang tác động sâu sắc đến từng quốc gia, từng nền kinh tế và từng người dân. Trong bối cảnh ấy, không một quốc gia nào có thể phát triển nếu tự tách mình khỏi dòng chảy chung của thời đại.

Với Việt Nam, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có một tư duy đối ngoại mới, chủ động hơn, toàn diện hơn và gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển bên trong. Điểm rất đáng chú ý trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng. Đối ngoại không chỉ là bang giao, nghi lễ hay xử lý quan hệ quốc tế, mà trở thành một phương thức trọng yếu trong xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Nói cách khác, đối ngoại không đứng ngoài đời sống quốc gia. Đối ngoại phải đi trước trong nhận diện nguy cơ, ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; đồng thời mở ra những không gian hợp tác mới để đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn. Quốc gia nào thiếu năng lực dự báo, không chủ động trước biến động quốc tế sẽ dễ rơi vào bị động. Ngược lại, quốc gia nào biết kết hợp nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, quốc gia đó sẽ có thêm cơ hội vươn lên.

Từ góc nhìn văn hóa, đối ngoại Việt Nam luôn mang trong mình cốt cách của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, trọng nghĩa, trọng tín, mềm dẻo nhưng kiên cường, hòa hiếu nhưng không khuất phục. Cha ông ta đã biết dùng chính nghĩa, lòng dân và văn hóa ứng xử làm nền tảng cho bang giao. Thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục nâng truyền thống ấy lên tầm cao mới: Độc lập, tự chủ; hòa bình, hữu nghị; thêm bạn, bớt thù; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong kỷ nguyên mới, truyền thống ấy cần được phát huy bằng tinh thần “tự chủ chiến lược” và “tự cường”. Tự chủ chiến lược không phải là khép kín hay đứng ngoài thế giới, mà là năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi, ứng phó linh hoạt trước biến động, không rơi vào đối đầu hay lệ thuộc. Tự cường là phát huy nội lực, củng cố niềm tin dân tộc, làm cho đất nước mạnh lên từ bên trong.

Một nền đối ngoại mạnh phải bắt đầu từ một quốc gia mạnh. Ngoại giao có thể mở đường, nhưng để đi xa, đất nước phải có nội lực. Nội lực ấy không chỉ là kinh tế, hạ tầng, công nghệ hay thị trường, mà còn là văn hóa, con người, thể chế, uy tín, năng lực thực thi, chất lượng quản trị và sức đồng thuận xã hội. Một đất nước có nền văn hóa giàu bản sắc, xã hội ổn định, con người sáng tạo, chính sách nhất quán, cam kết được thực hiện nghiêm túc sẽ có tiếng nói lớn hơn và sức thuyết phục cao hơn trên trường quốc tế.

Bởi vậy, khi nói “đối ngoại là sự vươn xa của đối nội”, đó không chỉ là một nhận định chính trị, mà còn là một triết lý phát triển. Tiếng nói của Việt Nam trên thế giới phụ thuộc vào chất lượng phát triển bên trong của Việt Nam. Nếu bên trong chúng ta xây dựng được một xã hội ổn định, nhân văn, sáng tạo, kỷ cương, giàu bản sắc và có khát vọng vươn lên, thì bên ngoài chúng ta sẽ có đủ tự tin để đối thoại, hợp tác, cạnh tranh và đóng góp.

Trong ý nghĩa ấy, đối ngoại không chỉ là công việc của ngành ngoại giao. Một sản phẩm Việt Nam đạt chuẩn quốc tế là một thông điệp đối ngoại. Một địa phương biết biến di sản thành nguồn lực phát triển là một thông điệp đối ngoại. Một doanh nghiệp giữ chữ tín trong hợp tác quốc tế là một thông điệp đối ngoại. Một nghệ sĩ, vận động viên, trí thức, sinh viên Việt Nam tỏa sáng ở nước ngoài cũng là một thông điệp đẹp về đất nước. Đối ngoại vì thế là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và của từng công dân.

Kiến tạo năng lực phát triển, lan tỏa bản sắc Việt Nam

Một trong những thông điệp nổi bật nhất trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu chuyển từ “ngoại giao bảo vệ không gian phát triển” sang “ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia”; từ “hội nhập thị trường” sang “kiến tạo thị trường”; từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi”. Đây là bước chuyển rất sâu trong tư duy đối ngoại và cũng là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển đất nước.

Trong nhiều năm qua, đối ngoại và hội nhập quốc tế đã góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới. Việt Nam phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ với các nước, tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao vị thế quốc gia. Những thành tựu ấy rất quan trọng. Nhưng khi đất nước đặt mục tiêu phát triển cao hơn, yêu cầu đối với đối ngoại cũng phải cao hơn.

Đối ngoại hôm nay không thể chỉ dừng lại ở việc mở cửa, thu hút nguồn lực hay tham gia các cơ chế quốc tế. Đối ngoại phải góp phần trực tiếp tạo ra năng lực mới cho quốc gia: Năng lực công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị, năng lực thích ứng và năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Quan hệ chính trị tốt đẹp phải được chuyển hóa thành dự án cụ thể. Cam kết quốc tế phải trở thành kết quả cụ thể. Hiệp định thương mại phải mở ra cơ hội cụ thể cho doanh nghiệp. Hợp tác công nghệ phải tạo ra năng lực cụ thể cho nền kinh tế.

Đây là điểm rất nhân văn trong tư duy đối ngoại mới. Phát triển không phải là những con số vô cảm. Phát triển phải được đo bằng chất lượng sống, cơ hội việc làm, khả năng tiếp cận tri thức, môi trường sống an toàn, đời sống tinh thần phong phú và niềm hạnh phúc của người dân. Đối ngoại vì thế không phải là câu chuyện xa xôi của hội nghị, diễn đàn hay tuyên bố chung. Đối ngoại phải đi vào đời sống, vào sinh kế, vào cơ hội phát triển của từng địa phương, doanh nghiệp và người dân.

Để làm được điều đó, đối ngoại kinh tế phải chuyển từ “thu hút” sang “chọn lọc và nâng chất”. Chúng ta không thể chỉ quan tâm đến số lượng dự án đầu tư, mà phải quan tâm đến chất lượng, công nghệ, mức độ chuyển giao, liên kết với doanh nghiệp trong nước, tiêu chuẩn môi trường và đóng góp vào năng suất lao động. Chúng ta không thể chỉ xuất khẩu nhiều hơn, mà phải xuất khẩu với giá trị cao hơn, thương hiệu mạnh hơn, hàm lượng văn hóa và sáng tạo lớn hơn.

Đặc biệt, trong thời đại khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngoại giao công nghệ phải trở thành một mũi nhọn. Không gian phát triển mới không chỉ nằm ở đất đai, tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà nằm trong dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, tiêu chuẩn xanh, thương mại số và mạng lưới tri thức toàn cầu. Việt Nam cần chủ động kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo của thế giới, tham gia định hình luật chơi mới về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tiêu chuẩn xanh, thương mại số; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương tiếp cận, học hỏi, hấp thụ và làm chủ các nguồn lực mới.

Nhưng kiến tạo năng lực phát triển quốc gia không chỉ là câu chuyện kinh tế hay công nghệ. Đó còn là câu chuyện văn hóa. Một nền kinh tế muốn đi xa phải có văn hóa chất lượng, văn hóa đổi mới, văn hóa giữ chữ tín, văn hóa tôn trọng tiêu chuẩn, văn hóa hợp tác và văn hóa cạnh tranh lành mạnh. Một quốc gia muốn có vị thế bền vững phải có sức mạnh mềm. Một thương hiệu quốc gia muốn được yêu mến phải có câu chuyện, bản sắc và giá trị.

Vì vậy, thông điệp nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa, tiềm lực kinh tế và vai trò chính trị ngày càng gia tăng của đất nước có ý nghĩa rất lớn đối với ngành Văn hóa. Việt Nam có một kho tàng văn hóa phong phú, từ di sản, lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nghệ thuật truyền thống đến văn học, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, du lịch văn hóa và công nghiệp sáng tạo. Nếu biết tổ chức, hiện đại hóa và kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại, những giá trị ấy sẽ trở thành nguồn lực đối ngoại, nguồn lực kinh tế và nguồn lực xây dựng thương hiệu quốc gia.

Ngoại giao văn hóa vì thế không thể chỉ dừng lại ở các hoạt động biểu diễn, triển lãm, tuần lễ văn hóa hay sự kiện quảng bá. Ngoại giao văn hóa phải trở thành một chiến lược dài hạn nhằm lan tỏa hình ảnh một Việt Nam tự cường, đổi mới, nhân văn và trách nhiệm. Ngoại giao di sản không chỉ là giới thiệu di sản ra thế giới, mà còn là cam kết bảo tồn, phát huy và biến di sản thành nguồn lực phát triển bền vững. Một di sản được UNESCO ghi danh, một món ăn Việt Nam được bạn bè quốc tế yêu thích, một bộ phim Việt Nam được công chúng toàn cầu chú ý, một lễ hội được tổ chức văn minh, một làng nghề được kết nối với thiết kế hiện đại và thị trường quốc tế - tất cả đều có thể trở thành những “đại sứ văn hóa” của đất nước.

Cùng với lan tỏa bản sắc, Việt Nam cũng cần thể hiện trách nhiệm toàn cầu. Một quốc gia có vị thế ngày càng cao không thể chỉ nói về lợi ích của mình, mà còn phải đóng góp cho những vấn đề chung của nhân loại: Hòa bình, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo, quản trị công nghệ mới. Đó là cách Việt Nam khẳng định mình không chỉ là một thành viên tích cực, mà còn là một đối tác tin cậy, một quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Để những thông điệp lớn ấy đi vào cuộc sống, yếu tố quyết định là tổ chức thực hiện. Tinh thần “hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả” phải trở thành văn hóa hành động. Quán triệt Nghị quyết là để hành động; hành động để tạo chuyển biến; chuyển biến để mang lại kết quả thực chất. Điều cần tránh nhất là tư duy hình thức, phô trương, nói nhiều nhưng làm ít, ký nhiều nhưng triển khai chậm, cam kết lớn nhưng kết quả nhỏ.

Từ bảo vệ không gian phát triển đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia là một bước chuyển về tư duy, nhưng cũng là một lời nhắc nhở về hành động. Muốn đi xa, Việt Nam phải mạnh từ bên trong. Muốn được thế giới tôn trọng, Việt Nam phải có bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc. Muốn phát triển bền vững, Việt Nam phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, biến văn hóa thành nguồn lực, biến đối ngoại thành động lực, biến khát vọng thành năng lực thực tế.

Đó là con đường để Việt Nam không chỉ bước ra thế giới, mà còn góp phần làm phong phú hơn thế giới bằng những giá trị văn hóa, hòa bình, nhân văn và trách nhiệm của mình.