Quyết liệt triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:
Xây dựng văn hóa quản trị biển cho một quốc gia biển mạnh
VHO - Tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới tư duy, tầm nhìn phát triển biển, làm rõ “hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI”. Từ thông điệp ấy, vấn đề đặt ra không chỉ là phát triển kinh tế biển theo nghĩa thông thường, mà sâu xa hơn là xây dựng một văn hóa quản trị biển hiện đại, bền vững, nhân văn, để biển trở thành không gian sinh tồn, không gian chủ quyền và không gian phát triển chiến lược của đất nước.

Từ tư duy khai thác biển đến văn hóa quản trị biển
Việt Nam là một quốc gia biển. Điều đó không chỉ được xác nhận bởi đường bờ biển dài hơn 3.260km, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km², hệ thống đảo và quần đảo có vị trí chiến lược, mà còn được khắc sâu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ những đội hùng binh Hoàng Sa, Bắc Hải, những làng chài ven bờ, những lễ hội cầu ngư, đến hình ảnh người lính hôm nay nơi đảo xa, biển luôn hiện diện như một phần máu thịt của Tổ quốc.
Nhưng trong thế kỷ XXI, có biển thôi chưa đủ. Một quốc gia có biển chưa chắc đã là quốc gia biển mạnh. Một đất nước có bờ biển dài chưa chắc đã biết làm giàu bền vững từ biển. Một nền kinh tế có cảng biển, du lịch biển, thủy sản, dầu khí chưa chắc đã hình thành sức mạnh biển đúng nghĩa nếu thiếu tầm nhìn tổng thể, năng lực quản trị hiện đại, khoa học công nghệ, văn hóa trách nhiệm với đại dương và sự gắn kết giữa phát triển với bảo vệ chủ quyền.
Bởi vậy, thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc phải làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI là một gợi mở chiến lược rất quan trọng. “Hình hài” ấy không thể chỉ nằm trên bản đồ quy hoạch, trong những chỉ tiêu tăng trưởng hay các công trình hạ tầng ven biển. Hình hài ấy phải được nhận diện trong cách chúng ta tư duy về biển, quản trị biển, sống với biển, khai thác biển, bảo vệ biển và trao truyền tình yêu biển đảo cho các thế hệ mai sau.
Văn hóa quản trị biển, theo nghĩa đó, là hệ giá trị, phương thức tư duy và chuẩn mực hành động trong phát triển biển trên nền tảng tôn trọng tự nhiên, thượng tôn pháp luật, bảo vệ chủ quyền, đề cao khoa học công nghệ, bảo đảm sinh kế cộng đồng, liên kết vùng, liên kết ngành và hướng tới phát triển bền vững. Đó là sự chuyển đổi từ tư duy khai thác sang tư duy kiến tạo; từ tư duy sở hữu tài nguyên sang tư duy gìn giữ không gian sống; từ tư duy phát triển theo từng ngành, từng địa phương sang tư duy quản trị tổng hợp không gian biển quốc gia.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế biển. Các khu kinh tế ven biển, cảng biển, du lịch biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, dầu khí, dịch vụ hàng hải, đô thị ven biển đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho nhiều địa phương. Đời sống cư dân vùng biển được cải thiện. Công tác bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển được tăng cường.
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng tiềm năng biển của Việt Nam vẫn chưa được khai thác tương xứng; phát triển còn phân tán, thiếu liên kết; hạ tầng biển chưa đồng bộ; khoa học công nghệ biển chưa thật sự trở thành nền tảng; ô nhiễm môi trường biển, suy giảm nguồn lợi thủy sản và tác động của biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức.
Chính vì vậy, văn hóa quản trị biển trước hết phải là văn hóa nhìn xa. Biển không thể được quản lý bằng tư duy nhiệm kỳ, càng không thể bị chia cắt bởi lợi ích cục bộ của từng ngành, từng địa phương, từng dự án. Một bờ biển bị bê tông hóa quá mức hôm nay có thể làm mất đi sức hấp dẫn du lịch trong tương lai. Một rạn san hô bị hủy hoại hôm nay có thể làm nghèo đi cả hệ sinh thái biển ngày mai. Một vùng rừng ngập mặn bị thu hẹp hôm nay có thể làm suy yếu lá chắn phòng chống thiên tai của nhiều thế hệ sau.
Văn hóa nhìn xa ấy đòi hỏi chúng ta phải đặt biển trong các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, 2045 và xa hơn. Biển phải trở thành không gian phát triển quốc gia, nơi hội tụ kinh tế biển xanh, đô thị biển hiện đại, cảng biển thông minh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics quốc tế, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nghiên cứu đại dương, bảo tồn đa dạng sinh học và thế trận quốc phòng – an ninh vững chắc. Biển không chỉ để khai thác, mà còn để kiến tạo tương lai.
Quản trị biển bằng khoa học, pháp quyền, sinh thái và trách nhiệm cộng đồng
Văn hóa quản trị biển trong thế kỷ XXI trước hết phải là văn hóa dựa trên dữ liệu và khoa học. Trong thời đại số, không thể quản trị biển chỉ bằng kinh nghiệm hay bằng những dữ liệu rời rạc, thiếu liên thông. Chúng ta cần cơ sở dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, hệ thống quan trắc môi trường biển, dữ liệu về nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học, dòng chảy, địa chất biển, năng lượng gió ngoài khơi, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô. Chúng ta cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ vệ tinh, cảm biến và mô hình dự báo để quản lý không gian biển, cảnh báo thiên tai, kiểm soát ô nhiễm, giám sát khai thác và bảo vệ chủ quyền.
Một quốc gia biển mạnh phải là quốc gia biết rõ biển của mình, hiểu sâu biển của mình và làm chủ tri thức về biển của mình. Không có dữ liệu, chúng ta khó quy hoạch đúng. Không có khoa học, chúng ta khó khai thác bền vững. Không có công nghệ, chúng ta khó cạnh tranh trong các ngành kinh tế biển mới. Không có năng lực dự báo, chúng ta sẽ bị động trước biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm và những biến động địa chính trị trên biển.
Cùng với khoa học và dữ liệu, văn hóa quản trị biển phải là văn hóa xanh. Thế giới đang chuyển mạnh sang kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp và mục tiêu Net Zero. Đây không chỉ là cam kết môi trường, mà còn là tiêu chuẩn cạnh tranh mới. Một cảng biển trong tương lai không chỉ được đánh giá bằng sản lượng hàng hóa thông qua, mà còn bằng mức độ phát thải, khả năng sử dụng năng lượng sạch, hệ thống điện bờ cho tàu cập cảng và năng lực đáp ứng các chuẩn mực xanh quốc tế. Một khu du lịch biển không chỉ hấp dẫn vì bãi cát đẹp, khách sạn sang trọng, mà còn vì cách nó bảo vệ hệ sinh thái, tôn trọng cộng đồng địa phương, giảm rác thải nhựa và giữ được bản sắc văn hóa biển.
Kinh tế biển xanh cần được cụ thể hóa bằng những hướng đi rõ ràng. Điện gió ngoài khơi có thể trở thành ngành kinh tế biển mũi nhọn, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo cực tăng trưởng mới. Nuôi trồng thủy sản cần chuyển từ khai thác tự nhiên sang công nghệ cao, sinh thái, tuần hoàn, xây dựng thương hiệu thủy sản xanh đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Du lịch biển phải chuyển từ khai thác số lượng sang nâng cao chất lượng, từ du lịch đại trà sang du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, du lịch thông minh. Các “bể chứa carbon xanh” như rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô cần được bảo vệ, phục hồi và từng bước đưa vào hệ thống hạch toán carbon quốc gia.
Văn hóa quản trị biển cũng phải là văn hóa pháp quyền và trách nhiệm. Biển là không gian mở nhưng không thể là không gian vô nguyên tắc. Mọi hoạt động khai thác, sử dụng, đầu tư, xây dựng, du lịch, vận tải, đánh bắt, nuôi trồng trên biển phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, quy hoạch, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội. Không thể để tình trạng mạnh ai nấy làm, ngành nào biết ngành đó, địa phương nào lo địa phương đó; càng không thể để lợi ích ngắn hạn làm tổn thương lợi ích lâu dài của quốc gia.
Văn hóa pháp quyền trong quản trị biển còn gắn chặt với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Phát triển biển và bảo vệ biển phải là một chỉnh thể thống nhất. Mỗi công trình kinh tế biển, mỗi cảng biển, mỗi khu dịch vụ hậu cần nghề cá, mỗi đảo tiền tiêu, mỗi cộng đồng ngư dân vươn khơi bám biển đều cần được nhìn trong mối quan hệ với thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển. Biển là không gian phát triển, nhưng đồng thời cũng là không gian chủ quyền. Làm giàu từ biển phải luôn đi đôi với giữ biển.
Đặc biệt, văn hóa quản trị biển phải là văn hóa lấy con người làm trung tâm. Một chiến lược biển dù lớn đến đâu cũng sẽ không trọn vẹn nếu người dân vùng biển không được hưởng lợi, nếu ngư dân vẫn bấp bênh sinh kế, nếu thanh niên ven biển thiếu cơ hội nghề nghiệp mới, nếu trẻ em trên đảo còn khó khăn trong tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, công nghệ. Quốc gia biển mạnh không chỉ nằm ở những cảng nước sâu, những con tàu lớn, những khu kinh tế hiện đại, mà còn nằm trong từng mái nhà bình yên của cư dân ven biển, từng lớp học nơi đảo xa, từng làng chài được bảo tồn, từng lễ hội biển được trao truyền.
Ở đây, văn hóa biển cần được coi là một nguồn lực phát triển. Lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, tri thức dân gian của ngư dân, ẩm thực biển, nghề truyền thống, làng chài, ký ức hải thương, văn học nghệ thuật về biển đảo, giáo dục chủ quyền biển đảo trong nhà trường, tất cả đều góp phần tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia biển. Nếu chỉ phát triển hạ tầng mà quên văn hóa, chúng ta có thể có những đô thị ven biển hào nhoáng nhưng thiếu linh hồn. Nếu chỉ khai thác du lịch mà không bảo tồn cộng đồng, chúng ta có thể có những khu nghỉ dưỡng hiện đại nhưng đánh mất bản sắc.
Từ thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy yêu cầu đặt ra hôm nay không chỉ là tổng kết một nghị quyết, mà là chuẩn bị một tầm nhìn phát triển biển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Biển phải trở thành một trong những không gian trung tâm của khát vọng Việt Nam hùng cường. Và để làm được điều đó, chúng ta cần xây dựng văn hóa quản trị biển như một nền tảng: Quản trị bằng tầm nhìn dài hạn, bằng khoa học công nghệ, bằng pháp quyền, bằng trách nhiệm sinh thái, bằng sự tham gia của người dân và bằng tình yêu Tổ quốc.
Khi văn hóa quản trị biển được hình thành vững chắc, hình hài của một quốc gia biển mạnh sẽ hiện lên trong những cảng xanh hiện đại, những vùng điện gió ngoài khơi, những trung tâm dữ liệu biển quốc gia, những khu du lịch sinh thái văn minh, những làng chài trù phú, những rừng ngập mặn được hồi sinh, những đô thị biển đáng sống, những con tàu vươn khơi bền bỉ, những người lính giữ đảo kiên cường và những thế hệ trẻ lớn lên với tri thức đại dương, văn hóa đại dương, khát vọng đại dương.
Biển đã nuôi dưỡng Việt Nam trong quá khứ. Biển đang mở ra cho Việt Nam những cơ hội lớn trong hiện tại. Và nếu chúng ta biết quản trị biển bằng văn hóa, phát triển biển bằng trí tuệ, bảo vệ biển bằng bản lĩnh và sống với biển bằng trách nhiệm, thì biển sẽ trở thành một phần hình hài mới của sức mạnh Việt Nam: xanh hơn, nhân văn hơn, thịnh vượng hơn và vững vàng hơn trước mọi sóng gió của thời đại.

RSS