Sửa Luật Dầu khí để khơi thông nguồn lực, mở không gian phát triển mới
VHO - Chiều 8.8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Tại phiên thảo luận, các ý kiến cơ bản đồng tình với sự cần thiết sửa đổi Luật trong bối cảnh hiện nay.
Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, quy định của Luật cần tiếp tục được hoàn thiện để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.

Không chỉ mang giá trị kinh tế thuần túy mà còn là "mốc chủ quyền sống"
Là ngành kinh tế mũi nhọn diễn ra chủ yếu trên không gian biển rộng lớn 1 triệu km2 của Tổ quốc, mỗi công trình dầu khí, giàn khoan hay đường ống không chỉ mang giá trị kinh tế thuần túy mà còn là "mốc chủ quyền sống", khẳng định và duy trì sự hiện diện của Việt Nam trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
Thảo luận tại hội trường, đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị Ban soạn thảo rà soát, thể chế hóa sâu sắc hơn Nghị quyết 36-NQ/TW của Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Về "yêu cầu an toàn dầu khí", đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ "an ninh quốc phòng" đi liền với "an toàn dầu khí".
Đồng thời, đại biểu kiến nghị cần có chính sách ưu đãi mạnh mẽ hơn nữa cho các lô dầu khí vùng nước sâu, xa bờ, địa chất phức tạp - những nơi có ý nghĩa quốc phòng, an ninh then chốt.

Đồng tình với đề xuất này, đại biểu Trịnh Xuân An phân tích, các quy định về quốc phòng, an ninh đã được thể hiện rải rác ở nhiều điều khoản.
Dự thảo Luật Dầu khí không chỉ là đạo luật về khai thác tài nguyên mà phải được định vị là một công cụ pháp lý quan trọng góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Đại biểu đề xuất quy định rõ nguyên tắc về cơ chế tham vấn giữa cơ quan quản lý chuyên ngành với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ngay trong Luật để làm cơ sở ban hành các Nghị định hướng dẫn.
Tận dụng tối đa hạ tầng dữ liệu của ngành dầu khí
Tán thành với việc đưa hoạt động thu giữ, lưu trữ cacbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi gắn với dầu khí vào Chương VIII và IX của dự thảo Luật, đại biểu Đào Chí Nghĩa (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) cho rằng, cách tiếp cận này giúp tận dụng tối đa hạ tầng dữ liệu của ngành dầu khí mà không chồng lấn với các luật chuyên ngành khác.
Để mở rộng không gian phát triển mới, đại biểu đề xuất, cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng khung pháp lý cho các dự án CCS độc lập và điện gió ngoài khơi quy mô thương mại, vốn chưa có quy định đồng bộ.
Chính phủ cần sớm ban hành các văn bản chi tiết cho Chương VIII và IX ngay khi Luật có hiệu lực. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương có biển chủ động bổ sung, hoàn thiện quy hoạch không gian kinh tế biển tại địa phương.

Theo đại biểu, việc hoàn thiện các cơ chế này không chỉ tháo gỡ nút thắt cho các dự án hiện hữu mà còn đón đầu xu hướng chuyển dịch năng lượng, tạo động lực phát triển bền vững cho các địa phương ven biển.
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) nhận định, đây là lĩnh vực mới, đóng vai trò then chốt trong mục tiêu giảm phát thải và chuyển dịch năng lượng. Đại biểu ủng hộ việc khuyến khích tận dụng các công trình dầu khí hiện hữu và cấu tạo địa chất phù hợp để triển khai lưu trữ cacbon (tại Điều 48, 49).
Để hiện thực hóa điều này, đại biểu đề nghị cần làm rõ một số vấn đề.
Một là, cần quy định cụ thể quyền nghiên cứu, đề xuất chuyển đổi các mỏ đã hoặc sắp kết thúc khai thác thành cơ sở lưu trữ cacbon.
Hai là, tạo điều kiện cho các nhà thầu dầu khí hiện hữu hoặc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam nghiên cứu đề xuất, chuyển đổi mỏ sang khai thác làm cơ sở lưu trữ cacbon trong một thời hạn nhất định, nhằm tận dụng lợi thế về dữ liệu địa chất và hạ tầng sẵn có.
Ba là, xây dựng quy định riêng cho nhà thầu trong lĩnh vực CCS để đảm bảo an toàn môi trường và giải pháp kỹ thuật.
Khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát
Giải trình ý kiến của các đại biểu tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng khẳng định, tinh thần xuyên suốt và nổi bật của dự thảo luật là tăng cường phân cấp, giao quyền, đơn giản hóa thủ tục nhằm khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, phù hợp với chủ trương của Đảng, thông lệ với công nghiệp dầu khí quốc tế và rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai Luật Dầu khí năm 2022.

Mô hình này vận hành theo nguyên tắc đổi mới về quản trị cấp nào nắm rõ nhất về việc gì thì phải ra quyết định về việc đó.
Theo đó, mô hình quản lý nhà nước sau khi được Quốc hội thông qua sẽ phân thành ba cấp cụ thể:
Cấp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: Quyết định những vấn đề vĩ mô, quan trọng như phân lô dầu khí, ưu đãi đầu tư và các vấn đề về quốc phòng, an ninh, đối ngoại (quy định cụ thể tại các Điều 7, Điều 14, Điều 20, Điều 41).
Cấp cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Công Thương được phân công làm đầu mối, phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương thực hiện vai trò quản lý nhà nước chuyên ngành; phê duyệt các nội dung như hợp đồng dầu khí, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quản lý tài nguyên trữ lượng và thực hiện kiểm tra, giám sát.
Cấp Petrovietnam: Với vai trò đại diện nước chủ nhà, Petrovietnam được giao một số quyền trong ký kết, quản lý, theo dõi, giám sát các hoạt động dầu khí; phê duyệt các nội dung cụ thể, kỹ thuật thuộc thẩm quyền, tận dụng bộ máy tổ chức đã hoạt động hiệu quả hàng chục năm qua.
Đồng bộ với việc phân cấp, cơ chế tổ chức giám sát được thiết kế chặt chẽ, theo đó khoản 10 Điều 58 quy định Chính phủ chi tiết hóa việc tổ chức kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu của Petrovietnam và các nhà thầu báo cáo, thực hiện kiểm toán dựa trên định hướng rủi ro; khoản 3 Điều 59 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong việc giám sát đầu tư, bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp.
Giải trình ý kiến của các đại biểu về cơ chế ưu đãi, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng phân tích thực tế, các dự án dầu khí hiện nay ngày càng phải triển khai ở vùng sâu, nước sâu, xa bờ với điều kiện khó khăn, địa chất phức tạp, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Nhiều mỏ nhỏ, cận biên nếu áp dụng cơ chế thông thường sẽ không đủ điều kiện để nhà đầu tư triển khai, dẫn đến việc Nhà nước bỏ lỡ nguồn thu.
Chính vì vậy, Chương VI của dự thảo luật đã bổ sung các chính sách ưu đãi (như tại Điều 43) nhằm khuyến khích phát triển mỏ nhỏ cận biên ở khu vực nước sâu xa bờ, đồng thời thúc đẩy giải pháp gia tăng hệ số thu hồi dầu.
Do việc gia tăng hệ số thu hồi dầu đòi hỏi nhà thầu phải đầu tư nguồn chi phí lớn cho nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, luật lần này đã thiết kế các chính sách khuyến khích nhà đầu tư phát triển khoa học công nghệ, khai thác tận thu các cụm mỏ, lô dầu khí.
Qua đó, giúp thu hút nhà đầu tư, gia tăng sản lượng khai thác, đóng góp cho ngân sách nhà nước và nguồn năng lượng sơ cấp quốc gia.
Đối với vấn đề mới được các đại biểu quan tâm là thu giữ, CCS và phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, Bộ trưởng cho biết các nội dung này được quy định tại Chương VIII và Chương IX.
Mục tiêu là tạo khuôn khổ pháp lý cho quá trình dịch chuyển năng lượng, giảm phát thải, tận dụng tối đa tài nguyên, dữ liệu và hạ tầng dầu khí sẵn có.
Sơ bộ đánh giá cho thấy, nếu khai thác tốt thị trường này, Việt Nam có thể phát triển một ngành dịch vụ khu vực Đông Nam Á trị giá hàng chục tỷ USD.
Bên cạnh đó, phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với dầu khí giúp mở rộng chuỗi giá trị, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác. Các dự án dầu khí vốn tiêu thụ năng lượng rất lớn, việc tích hợp năng lượng tái tạo phục vụ tại chỗ, kết hợp sử dụng hạ tầng đường ống, giàn khoan để tiến tới điện phân hydrogen đưa vào bờ là hướng đi rất mới và tiến bộ.
Chính phủ đã dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết và dự kiến cho hiệu lực đồng thời với Luật.

Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên ghi nhận và đánh giá cao tinh thần chủ động, trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra trong việc chuẩn bị, cập nhật, bổ sung kịp thời hồ sơ, tài liệu cũng như tổ chức thẩm tra đúng quy định.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên giao Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội khẩn trương tổng hợp đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội phát biểu tại tổ, tại hội trường và ý kiến bằng văn bản để gửi đến Chính phủ và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu, giải trình.
Đồng thời, đề nghị Chính phủ chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp chặt chẽ với Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính và các cơ quan liên quan khẩn trương tiếp thu thấu đáo các ý kiến đại biểu, báo cáo thẩm tra để hoàn thiện dự thảo Luật, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp.

RSS