Khi văn hóa hiện diện trong từng quyết sách và cách thức thực thi

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

VHO - Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ngày 29.7.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không dành một phần riêng để nói về văn hóa.

Tuy nhiên, đọc kỹ toàn bộ bài phát biểu có thể nhận thấy văn hóa hiện diện như một mạch ngầm xuyên suốt: Trong quan điểm lấy con người làm trung tâm, trong yêu cầu xây dựng văn hóa trách nhiệm, văn hóa phục vụ, văn hóa nêu gương và trong cách đánh giá sự phát triển bằng chất lượng sống, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân. Điều đó cho thấy văn hóa không chỉ là một lĩnh vực của đời sống, mà còn là phương thức để tổ chức sự phát triển đất nước một cách bền vững và nhân văn.

  Khi văn hóa hiện diện trong từng quyết sách và cách thức thực thi - ảnh 1
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TRẦN HUẤN

 Văn hóa là hệ giá trị điều tiết sự phát triển

Trong nhiều năm qua, chúng ta thường nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Tuy nhiên, để quan điểm ấy thực sự đi vào cuộc sống, văn hóa không thể chỉ được hiểu là những hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tồn di sản hay tổ chức lễ hội. Văn hóa cần hiện diện trong toàn bộ cách chúng ta lựa chọn mô hình phát triển, phân bổ nguồn lực, tổ chức bộ máy và ứng xử với con người.

Từ góc nhìn đó, một trong những thông điệp sâu sắc của bài phát biểu tại Hội nghị ngày 29.7.2026 là yêu cầu đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tốc độ tăng trưởng hay cơ cấu kinh tế, mà còn phải đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu, nhưng những động lực ấy cuối cùng phải giúp mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Đây chính là một quan điểm phát triển mang chiều sâu văn hóa. Con người không chỉ được xem như nguồn lao động hay yếu tố đầu vào của nền kinh tế, mà là giá trị cao nhất, là chủ thể sáng tạo và đích đến cuối cùng của mọi chính sách. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu con người cảm thấy bất an, cơ hội phát triển bị thu hẹp, khoảng cách xã hội gia tăng hoặc người yếu thế phải chịu những chi phí bất hợp lý, thì sự phát triển ấy chưa thể được coi là đầy đủ và bền vững.

Bởi vậy, bài phát biểu nhấn mạnh rằng hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh. Không được đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt. Giá trị của nghị quyết phải được thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

Điều đáng chú ý ở đây là văn hóa được đặt ngang hàng với những trụ cột căn bản của sự phát triển. Văn hóa không phải phần việc được bổ sung sau khi đã hoàn thành các mục tiêu kinh tế, mà là hệ giá trị điều tiết toàn bộ quá trình phát triển. Văn hóa giúp chúng ta trả lời những câu hỏi quan trọng: Phát triển vì ai? Phát triển bằng cách nào? Ai được hưởng lợi? Những giá trị nào phải được bảo vệ? Giới hạn nào không thể đánh đổi?

Nếu thiếu sự điều tiết của văn hóa, phát triển rất dễ rơi vào tư duy chạy theo những thành tích ngắn hạn, coi nhẹ môi trường, bản sắc, công bằng xã hội và phẩm giá con người. Khi ấy, những con số tăng trưởng có thể đẹp hơn, nhưng đời sống tinh thần lại nghèo đi; đô thị có thể mở rộng, nhưng không gian cộng đồng bị thu hẹp; công nghệ có thể hiện đại hơn, nhưng con người lại cảm thấy xa cách và cô đơn hơn.

Văn hóa trong phát triển còn thể hiện ở cách quản trị không gian và nguồn lực quốc gia. Bài phát biểu yêu cầu phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực và nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia. Đất đai được xác định không chỉ là nguồn lực kinh tế, mà còn là tài nguyên đặc biệt, là không gian sinh tồn và phát triển; việc quản lý, sử dụng phải bảo đảm lợi ích chung, cải thiện chỗ ở và sinh kế của người dân.

Nhìn từ góc độ văn hóa, đất đai không chỉ là diện tích và giá trị thị trường. Mỗi vùng đất còn chứa đựng ký ức, phong tục, quan hệ cộng đồng và bản sắc của con người. Một quyết định phát triển nếu chỉ tính đến hiệu quả kinh tế mà không quan tâm đến sự đứt gãy văn hóa, mất mát không gian sống hoặc tổn thương đối với cộng đồng thì rất khó tạo ra sự đồng thuận lâu dài.

Tương tự, phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và hướng tới mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Điều đó cho thấy mỗi chiến lược phát triển đều cần được đặt trong sự thống nhất giữa kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và lợi ích quốc gia lâu dài.

Văn hóa còn hiện diện trong yêu cầu tạo dựng đồng thuận xã hội. Bài phát biểu nhấn mạnh công tác thông tin, tuyên truyền phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu và thuyết phục; đồng thời cần chủ động đấu tranh với thông tin sai trái nhưng cũng phải lắng nghe những phản biện có cơ sở. Đặc biệt, đồng thuận xã hội trước hết phải được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và những kết quả mà người dân cảm nhận được.

Đây là một thông điệp rất sâu sắc về văn hóa chính trị. Đồng thuận không thể chỉ được tạo ra bằng tuyên truyền hay lời kêu gọi. Đồng thuận bền vững được hình thành từ niềm tin; còn niềm tin lại được bồi đắp bằng sự minh bạch, công bằng, tinh thần đối thoại và việc lời nói đi đôi với hành động. Khi người dân thấy quyền lợi chính đáng được tôn trọng, ý kiến được lắng nghe, chính sách được thực hiện nhất quán, họ sẽ trở thành chủ thể tích cực của quá trình phát triển.

Vì thế, văn hóa trong bài phát biểu không hiện diện như một lĩnh vực riêng biệt, mà trở thành nền tảng giá trị cho toàn bộ tư duy phát triển. Đó là văn hóa lấy con người làm trung tâm, văn hóa không đánh đổi tương lai lấy thành tích trước mắt, văn hóa tôn trọng cộng đồng và văn hóa xây dựng niềm tin bằng kết quả thực tế.

Xây dựng văn hóa trách nhiệm, phục vụ và nêu gương

Nếu văn hóa là hệ giá trị điều tiết sự phát triển, thì nơi văn hóa cần được thể hiện rõ nhất chính là trong hoạt động của bộ máy và đội ngũ cán bộ. Một nghị quyết đúng, một chính sách tốt chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được thực hiện bằng tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm và thái độ phục vụ Nhân dân.

Một trong những điểm nổi bật của bài phát biểu là yêu cầu triển khai phải “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm”; chất lượng thực thi phải trở thành thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống. Nhận thức phải được chuyển thành hành động, quyết tâm phải được chuyển thành kết quả.

Đây không chỉ là yêu cầu về phương pháp tổ chức công việc, mà còn là yêu cầu xây dựng văn hóa thực thi. Văn hóa ấy đòi hỏi mỗi lời nói phải đi cùng hành động, mỗi nhiệm vụ phải có người chịu trách nhiệm, mỗi quyết định phải được đánh giá bằng kết quả cụ thể. Không thể lấy số lượng văn bản, kế hoạch hay hội nghị thay cho những chuyển biến thực tế trong đời sống.

Bài phát biểu yêu cầu chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Đặc biệt, không được hành chính hóa việc thực hiện, không lấy số lượng kế hoạch và hội nghị thay cho kết quả. Mỗi chương trình phải mang “hơi thở, nhịp sống, đặc thù” của từng Bộ, ngành, địa phương và cơ sở.

Tinh thần ấy phản ánh một yêu cầu rất căn bản: Chuyển từ văn hóa làm đúng quy trình sang văn hóa tạo ra kết quả. Quy trình là cần thiết để bảo đảm kỷ luật và minh bạch, nhưng quy trình không thể trở thành nơi trú ẩn cho tâm lý né tránh trách nhiệm. Một hồ sơ có thể đi đúng tất cả các bước, nhưng nếu không giải quyết được vấn đề của người dân thì vẫn chưa thể coi là hoàn thành nhiệm vụ.

Văn hóa thực thi cũng đòi hỏi phải xử lý hài hòa giữa kỷ luật và đổi mới. Bài phát biểu nhấn mạnh phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Những quy định của Đảng không chỉ giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, mà còn giúp cán bộ tự soi, tự sửa và bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Kỷ luật, vì vậy, không nhằm tạo ra một bộ máy sợ sai, sợ trách nhiệm và chỉ lựa chọn những việc an toàn. Kỷ luật phải giúp mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền để yên tâm đổi mới, cống hiến. Đồng thời, phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung với hành vi lợi dụng thí điểm, cơ chế đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa và bao che sai phạm.

Đây chính là yêu cầu xây dựng một môi trường văn hóa tổ chức lành mạnh: Người liêm chính, sáng tạo được trọng dụng và bảo vệ; người né tránh, đùn đẩy hoặc lợi dụng cơ chế để trục lợi phải bị xử lý. Khi đúng và sai được phân định rõ ràng, cán bộ có năng lực và tâm huyết mới có thể yên tâm hành động.

Một chuyển đổi văn hóa rất quan trọng khác là chuyển từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp bằng dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết và chịu trách nhiệm. Đây không chỉ là cải cách thủ tục hành chính, mà là sự thay đổi căn bản trong cách bộ máy nhìn nhận vai trò của mình.

Trong văn hóa quản lý cũ, cán bộ có thể chỉ cần làm đúng phần việc, đúng quy trình và đúng thẩm quyền. Nhưng trong văn hóa phục vụ, câu hỏi quan trọng hơn là vấn đề của người dân đã được giải quyết hay chưa. Cán bộ không thể chỉ viện dẫn quy định, chuyển hồ sơ hay yêu cầu người dân đi từ cơ quan này sang cơ quan khác. Bộ máy phải chủ động phối hợp, tìm cách tháo gỡ và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.

Văn hóa phục vụ phải được thể hiện trong những điều rất cụ thể: Người dân không phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có; dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và được chia sẻ theo thẩm quyền; hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm, không tạo thêm thủ tục, phần mềm và báo cáo hình thức.

Công nghệ chỉ có ý nghĩa văn hóa và xã hội khi giúp con người bớt vất vả, bộ máy gần dân hơn và quyền lợi được bảo đảm tốt hơn. Nếu chuyển đổi số chỉ tạo ra thêm một lớp thủ tục mới, thêm những ứng dụng nhưng không giảm được thời gian, chi phí và số lần đi lại của người dân, thì đó chưa phải là đổi mới thực chất.

Trong toàn bộ quá trình ấy, người đứng đầu giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Bài phát biểu yêu cầu người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, những điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp và Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng. Không thể chỉ giao việc rồi chờ báo cáo, nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi công việc chậm trễ.

Đây là yêu cầu về văn hóa nêu gương. Người lãnh đạo không chỉ thể hiện vai trò bằng chức vụ hay lời nói, mà bằng khả năng đứng ra giải quyết vấn đề, bảo vệ người làm đúng và chịu trách nhiệm về kết quả. Khi người đứng đầu dám nhận trách nhiệm, cấp dưới sẽ có thêm niềm tin để hành động; ngược lại, nếu người đứng đầu né tránh, tâm lý đùn đẩy sẽ lan rộng trong cả tổ chức.

Văn hóa trách nhiệm còn phải được củng cố bằng kiểm tra, giám sát và đánh giá thực chất. Một nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải trở thành căn cứ đánh giá cán bộ; nơi làm tốt cần được biểu dương, người dám đổi mới phải được bảo vệ, còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức và trục lợi phải bị xử lý nghiêm.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa, bài phát biểu tại Hội nghị ngày 29.7.2026 gửi đi một thông điệp rõ ràng: Văn hóa không chỉ nằm trong những thiết chế hay sản phẩm văn hóa, mà trước hết nằm trong cách chúng ta lãnh đạo, tổ chức công việc và ứng xử với Nhân dân. Đó là văn hóa trách nhiệm thay cho đùn đẩy; văn hóa hành động thay cho hình thức; văn hóa phục vụ thay cho tư duy ban phát; văn hóa nêu gương thay cho việc chỉ đạo từ xa.

Khi những giá trị ấy thấm vào từng cơ quan, từng cán bộ và từng quyết sách, văn hóa sẽ thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển. Và khi đó, giá trị của nghị quyết không chỉ được nhìn thấy trong văn bản, mà được cảm nhận trong chất lượng sống, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.