Từ lấy ý kiến người dân đến nghị trường: Cần làm rõ sự thay đổi chính sách công chứng

Luật sư NGUYỄN HỮU LÂM, Giảng viên Trường Đại học Thái Bình Dương - Khánh Hoà

VHO - Quy định về công chứng trong dự thảo Luật Đất đai đặt ra câu hỏi về tính nhất quán của quá trình xây dựng luật: Chính phủ yêu cầu thực hiện công chứng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất; người dân được hỏi hai phương án; nhưng dự thảo ngày 18.10.2026 lại lựa chọn giao Chính phủ quy định. Sự thay đổi này cần được giải trình đầy đủ trước khi Quốc hội quyết định.

Nghiên cứu hồ sơ dự án Luật Đất đai sửa đổi phục vụ kỳ họp Quốc hội tháng 10.2026, tôi cho rằng vấn đề cần bàn không chỉ là giao dịch đất đai có phải công chứng hay không. Điều đáng quan tâm còn là cách một chính sách được hình thành, đưa ra tham vấn, tiếp thu và chuyển thành nội dung trình Quốc hội.

Đối với đất đai, mỗi thay đổi về điều kiện giao dịch đều có thể ảnh hưởng đến tài sản tích lũy của nhiều thế hệ. Bởi vậy, sự minh bạch trong quá trình xây dựng luật cũng là một bảo đảm cho an toàn pháp lý của người dân.

Ngày 18.9.2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 278/NQ-CP về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật. Đối với dự án Luật Đất đai, Chính phủ yêu cầu hoàn thiện quy định theo hướng thực hiện công chứng đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bảo đảm phù hợp pháp luật chuyên ngành và phòng ngừa tranh chấp, khiếu kiện. Nghị quyết đồng thời yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân thực chất, công khai việc tiếp thu, giải trình.

Cần phân biệt: đây là yêu cầu của Chính phủ đối với việc hoàn thiện dự án luật, không phải một quy định mới trực tiếp thay thế điều kiện giao dịch trong luật hiện hành. Tuy nhiên, yêu cầu ấy xác lập định hướng rõ ràng cho cơ quan chủ trì soạn thảo. Nếu lựa chọn hướng khác, hồ sơ phải thể hiện được lý do, căn cứ và việc xem xét, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Trước đó, Bộ Tư pháp đã đề nghị kế thừa quy định công chứng, chứng thực tại khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024. Cơ quan soạn thảo báo cáo tiếp thu, nhưng các phiên bản sau tiếp tục thay đổi: từ duy trì yêu cầu công chứng sang gắn yêu cầu này với mức độ đầy đủ của dữ liệu, rồi chuyển sang giao Chính phủ quy định.

Chỉnh lý dự thảo là hoạt động bình thường trong xây dựng luật. Điều cần quan tâm là mỗi lần thay đổi có được đánh giá và giải trình tương xứng với tác động của nó hay không. Một chính sách liên quan trực tiếp đến hình thức giao dịch không thể chỉ được xử lý như việc sửa câu chữ.

Từ lấy ý kiến người dân đến nghị trường: Cần làm rõ sự thay đổi chính sách công chứng - ảnh 1
Những thay đổi về quy định công chứng, chứng thực trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang đặt ra yêu cầu bảo đảm tính minh bạch của chính sách và an toàn pháp lý trong các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ảnh minh họa

Việc lấy ý kiến trên VNeID diễn ra từ ngày 23.9 đến ngày 7.10.2026. Đây là kênh để người dân trực tiếp tham gia xây dựng chính sách; ý kiến được trích xuất, bàn giao cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp. Nội dung công chứng được lấy ý kiến theo hai hướng: thu hẹp yêu cầu bắt buộc gắn với tình trạng dữ liệu đất đai, hoặc giữ quy định bắt buộc công chứng, chứng thực như hiện hành.

Công văn số 11927/BNNMT-QLĐĐ ngày 16.10.2026 ghi nhận 3.190 ý kiến về công chứng, chiếm 71,27% tổng số 4.476 ý kiến góp ý theo tám vấn đề. Trong 3.106 ý kiến có nội dung, 2.067 ý kiến lựa chọn giữ quy định bắt buộc, tương đương 66,55%; 27 ý kiến lựa chọn phương án thu hẹp. Nhiều ý kiến khác nhấn mạnh an toàn pháp lý và yêu cầu xác định rõ phạm vi áp dụng.

Những tỉ lệ này cần được hiểu đúng: Đó là kết quả trong nhóm ý kiến được thống kê, không phải tỷ lệ đại diện cho toàn thể Nhân dân. Tuy nhiên, chúng cho thấy đây là vấn đề được quan tâm đặc biệt và có sự khác biệt rõ giữa các hướng góp ý.

Lấy ý kiến xây dựng luật không phải cuộc biểu quyết để phương án nhiều người chọn đương nhiên trở thành luật. Cơ quan trình có thể đề xuất phương án khác nếu có căn cứ thuyết phục. Nhưng chính khi lựa chọn khác với phần lớn ý kiến góp ý, trách nhiệm giải trình càng phải cụ thể: Vì sao không tiếp thu, lợi ích nào được bảo đảm và rủi ro nào đã được đánh giá?

Đối chiếu dự thảo ngày 18.10.2026, khoản 4 Điều 21 quy định: “Chính phủ quy định loại hợp đồng thực hiện quyền của người sử dụng đất phải công chứng, chứng thực phù hợp với lộ trình chuyển đổi số và kết nối liên thông dữ liệu về quản lý đất đai.”

Như vậy, dự thảo đã thay đổi cách tiếp cận: Thay vì quy định trực tiếp trong luật những loại hợp đồng phải công chứng, chứng thực, dự thảo giao Chính phủ quy định cụ thể. Điểm đáng chú ý là phương án này khác với hai phương án đã đưa ra lấy ý kiến người dân trên VNeID. Vì vậy, cần làm rõ căn cứ lựa chọn và quá trình tiếp thu, giải trình trước khi Quốc hội xem xét.

Không thể mặc nhiên coi phương án này đã được người dân đồng thuận chỉ vì dự án luật từng được lấy ý kiến rộng rãi. Sự đồng thuận với một dự án nói chung cũng không thay thế được ý kiến đối với một chính sách cụ thể còn nhiều tranh luận.

Mặt khác, giao Chính phủ quy định chưa đồng nghĩa với việc chắc chắn bỏ toàn bộ công chứng bắt buộc. Chính phủ vẫn có thể quy định các giao dịch phải công chứng. Điểm thay đổi căn bản là mức bảo đảm đang được xác lập trực tiếp trong luật sẽ phụ thuộc vào nội dung văn bản dưới luật được ban hành sau đó.

Vì vậy, việc giải trình phải làm rõ cả hai vấn đề: Phạm vi giao dịch cần được bảo vệ bằng công chứng và giới hạn quyền quyết định giao cho Chính phủ. Chỉ viện dẫn yêu cầu linh hoạt hoặc chuyển đổi số, sử dụng cơ sở dữ liệu để thay thế công chứng là lập luận chưa đủ sức thuyết phục.

Dữ liệu có thể giúp xác định thông tin thửa đất, giảm giấy tờ và thời gian xác minh. Nhưng dữ liệu về tài sản không tự chứng minh người ký hoàn toàn tự nguyện, hiểu đúng hợp đồng hoặc có đủ quyền định đoạt. Muốn thay đổi cơ chế kiểm tra giao dịch, cần chỉ ra ai đảm nhiệm phần việc ấy, chịu trách nhiệm đến đâu và người dân được bảo vệ thế nào khi xảy ra sai sót.

Một điểm khác cần làm rõ là sự thống nhất giữa giải trình và dự thảo. Một số đề nghị giữ công chứng bắt buộc được trả lời theo hướng tiếp thu, hoàn thiện, trong khi nội dung cuối cùng lại là giao Chính phủ quy định. Nếu chỉ tiếp thu một phần hoặc thay đổi cách tiếp thu, báo cáo cần nói rõ phần nào được giữ, phần nào không và vì sao.

Tương tự, khi chính sách thay đổi so với định hướng tại Nghị quyết số 278/NQ-CP, cần công khai tài liệu thể hiện việc Chính phủ xem xét sự thay đổi đó. Hiện chưa tìm thấy tài liệu để khẳng định quyết định ấy không tồn tại; nhưng hồ sơ cần được bổ sung, đối chiếu để làm rõ vấn đề này trước khi Quốc hội xem xét.

Tờ trình số 943/TTr-CP và tờ trình tóm tắt chưa đưa nội dung công chứng vào mục vấn đề xin ý kiến Quốc hội. Nếu đúng như vậy, đây là điểm cần khắc phục. Một thay đổi đáng kể về thẩm quyền và điều kiện giao dịch cần được trình bày nổi bật, cùng các phương án và hệ quả, để đại biểu có đủ thông tin thảo luận.

Trước khi biểu quyết, Quốc hội cần được cung cấp bảng đối chiếu xuyên suốt: Yêu cầu của Chính phủ; nội dung đã lấy ý kiến; kết quả tham vấn; phương án sau chỉnh lý; lý do lựa chọn; kết quả đánh giá tác động và rà soát tính thống nhất pháp luật. Với phương án giao quyền, cần xác định phạm vi, tiêu chí, giới hạn và cơ chế chuyển tiếp.

Nếu những nội dung này chưa được làm rõ, nên tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, cân nhắc lấy ý kiến bổ sung đối với thay đổi có tính chính sách.

Chất lượng lập pháp được thể hiện ở khả năng giải thích thuyết phục vì sao một quy định được lựa chọn. Người dân cần biết ý kiến của mình được xử lý thế nào; đại biểu Quốc hội cần biết chính xác điều mình sẽ quyết định. Khi hai yêu cầu ấy được bảo đảm, việc sửa luật mới có nền tảng vững chắc để tạo sự đồng thuận và bảo vệ quyền lợi của người dân.