Nước mắt ở Hàng Dương
VHO- Vết sẹo trên cơ thể đã lành, nhưng nỗi đau vẫn chẳng thể nguôi ngoai. Với những cựu tù chính trị Côn Đảo, ký ức về “địa ngục trần gian” luôn hằn sâu trong tâm khảm. Trở về cuộc sống đời thường đã nhiều năm, song mỗi người vẫn canh cánh nỗi nhớ thương đồng đội, những người đã mãi mãi nằm xuống trong lòng mảnh đất tiền tiêu của Tổ quốc.
“Cô Tư Ni” người thứ 3 (hàng đầu từ trái qua) cùng các cựu chiến binh thắp nến và hát cho đồng đội nghe tại Nghĩa trang Hàng Dương
Nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo) những ngày tháng 7, giữa hàng mộ nghi ngút khói hương luôn có hình bóng những cựu tù chính trị năm xưa. Họ ngồi lặng hàng giờ, thủ thỉ, sẻ chia, khóc cười cùng đồng đội…
Thương lắm các chị ơi!
Đêm ở Hàng Dương văng vẳng tiếng rì rầm, trong đó có tiếng khóc nghẹn ngào của nữ cựu tù chính trị Nguyễn Thị Ni: “Gặp nhau vui lắm, nhưng lại nhớ nhiều hơn! Thương lắm các chị ơi!”. 84 tuổi, bà Ni là nữ cựu tù chính trị duy nhất ở lại bám đảo, âm thầm hương khói cho những đồng đội đang yên nghỉ tại Nghĩa trang Hàng Dương. Nhắc đến bà Ni, người dân nơi đây ai cũng biết và thương mến gọi bằng cái tên “cô Tư Ni”.
Quê ở Tiền Giang, những năm 1959-1960, bà Ni tham gia Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre và Tiền Giang. Sau đó, bà thoát ly lên Sài Gòn làm biệt động thành và bị địch bắt năm 1971. Tháng 10.1972, bà bị đày ra Côn Đảo và giam ở phòng 6 trại 2 (Phú Hải) cùng nhiều chị em tù chính trị khác. Những ngày tháng trong ngục tù, chịu đựng những trận đòn roi, tra tấn dã man, nhiều không kể xiết, nhưng tất cả cũng không thể khai thác được điều gì ở người nữ chiến sĩ cách mạng kiên trung. “Chúng thẳng tay đánh đập tàn bạo vào bất cứ đâu trên thân thể chị em. Chúng tuyên bố: Uýnh vì mày hổng có khai gì hết. Tao uýnh cho mày tuyệt giống nòi, sau này mày có lấy chồng cũng không sinh con được nữa…”, bà Ni hồi ức.
Những trận đòn liên hồi kỳ trận, những vết thương mới cũ chồng chéo, những cơn đau trên cơ thể lâu dần cũng khiến chị em tù nhân chai sạn. Chúng càng đánh, chị em càng đấu tranh phản đối dữ dội. Mỗi cuộc đấu tranh là một cuộc đàn áp đẫm máu. Đến giờ, điều khiến bà nhớ nhất là ký ức những đêm khuya chị em nằm chung trên một tấm chiếu, bới tóc cho nhau, nhường nhau miếng nước, chia nhau từng hột muối. “Có chị yếu quá, cứ lịm dần đi, mấy chị em chỉ biết ôm chặt thi thể đồng đội mà khóc”, bà Ni kể. Cống hiến cả tuổi thanh xuân trong cuộc chiến và tù ngục, nhưng điều duy nhất khiến bà tiếc nuối là nhiều chị đã có chồng con, có người yêu hẹn thề mà không kịp trở về. Nhắc tên từng người, chị Hương, chị Thanh, chị Cúc, chị Xuân…, những người tù kiên trung đã hóa thân vào lòng đất Côn Đảo, bà Ni lại nghẹn ngào rơi nước mắt.
Những ký ức chẳng thể nào quên ấy đã trở thành duyên nợ ân tình để sau bao nhiêu năm, bà Ni quyết định quay lại gắn bó với mảnh đất “địa ngục trần gian” cho đến cuối đời. Ngoài 40 tuổi, bà Ni đã an phận với cuộc sống đơn chiếc, không chồng không con. Nhưng rồi duyên tới, bà gặp gỡ ông Đỗ Nam Hoàn, khi ấy là cán bộ nguồn ở đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được đưa đi học bồi dưỡng chính trị. Hai ông bà sống với nhau 38 năm, không con cái, bởi những đòn roi tra tấn của kẻ thù đã khiến bà Ni mãi mãi mất đi thiên chức làm mẹ. Vậy nhưng, những mất mát thiệt thòi ấy, với bà Ni không đáng là gì khi nữ cựu tù nghĩ đến đồng đội, những người chị đã gửi tuổi thanh xuân vào lòng đất mẹ. Trở lại Côn Đảo sau 10 năm, hòn đảo ngục tù lúc ấy vẫn hoang sơ lắm, việc đầu tiên bà làm là đến Nghĩa trang Hàng Dương thắp hương cho các chị.
“Tôi đã ngồi rất lâu bên những nấm mộ và gọi tên từng người. Rồi tôi nói với ông nhà chuyện muốn ở lại Côn Đảo, ông ấy đã đồng ý”, bà Ni kể. Thế rồi hai ông bà về đất liền làm đơn xin chuyển công tác. Bà được phân làm Phó thư ký Công đoàn huyện Côn Đảo, ông Đỗ Nam Hoàn được bổ nhiệm giữ chức quyền Bí thư Huyện ủy Côn Đảo.
Lý giải cho quyết định trở về, bà Ni tâm sự: “Người tù Côn Đảo nào cũng đau đáu được thăm lại nơi giam cầm và thắp nhang cho đồng đội. Ở đây, mỗi khi nhớ các chị, các anh, tôi lại có thể ra ngay Nghĩa trang Hàng Dương để trò chuyện với họ. Lúc nào tôi cũng cảm thấy các chị đang ở bên mình. Lúc nào cũng thương nhớ khôn nguôi!”
Mỗi năm, Ban liên lạc cựu tù Côn Đảo đều tổ chức hoạt động về nguồn. Đó là dịp để những người cựu tù gặp gỡ, mừng tủi ôn chuyện năm xưa. Bà Ni trầm ngâm, mắt xa xăm nhìn về phía những hàng mộ kéo dài tít tắp ở Hàng Dương: “Côn Đảo nay đã trở thành “hòn Ngọc biển Đông”, không còn gông cùm xiềng xích, nhưng Hàng Dương và mỗi tấc đất nơi đây vẫn in hằn ký ức. Bước đi trong Nghĩa trang, tôi chỉ dám đặt chân thật nhẹ. Bởi ở Hàng Dương, 5 tấc đất thì có 10 tấc xương. Các chị, các anh và rất nhiều anh hùng liệt sĩ vô danh đang nằm ở đó cùng cát bụi”.

Du khách tham quan “Địa ngục trần gian” tại Côn Đảo
Bàn thờ Tổ quốc giữa biển khơi
Xúc động nghẹn ngào khi được gặp những cựu tù đã từng sát cánh đấu tranh trong nhà tù Côn Đảo, bà Trần Thị Hòa, Phó Ban Liên lạc chiến sĩ cách mạng Việt Nam bị địch bắt tù đày chia sẻ: “Gần 50 năm trôi qua, thời gian gần cả đời người, nhưng ký ức về một thời đau thương vẫn luôn là nỗi ám ảnh của anh chị em cựu tù chính trị Côn Đảo. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, song chúng tôi có điểm chung là tuyệt đối trung thành với Đảng, Bác Hồ, nguyện suốt đời đi theo con đường mà Người đã chọn…”.
Với cựu tù chính trị Tô Hồng Võ (sinh năm 1938, Chủ tịch Hội Tù chính trị yêu nước thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, Cà Mau), kể từ khi được trả lại tự do, sau mấy chục năm thì dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ là lần đầu tiên ông có cơ hội được thực hiện được ước nguyện trở lại Côn Đảo để thăm viếng đồng đội. “Tôi bị giam ở Côn Đảo từ năm 1959-1968. Suốt 9 năm 8 tháng ấy, chúng tôi phải chịu đựng những cực hình khủng khiếp nhất. Để đàn áp tù nhân, có lúc chúng lèn cả mấy chục người vào trong căn phòng rộng chừng chục mét vuông, bỏ đói bỏ khát. Nhiều đồng đội của tôi không chịu đựng nổi đã vĩnh viễn ra đi. Nghĩa trang Hàng Dương ngày trước chỉ là bãi cát trắng, bây giờ là nơi an nghỉ của hàng vạn Anh hùng liệt sĩ, những đồng đội kiên trung của chúng tôi ngày đó…”, cựu tù chính trị Tô Hồng Võ nhớ lại.
Còn trong ký ức của cựu tù chính trị Chu Cấp đến từ Nghệ An, những cuộc đấu tranh không cân sức, lực lượng tù chính trị tay không với tấm thân gầy guộc, chịu đựng gồng cùm xiềng xích nhưng một lòng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng vẫn như mới ngày hôm qua. “Chúng tôi luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, không sợ hy sinh, liên tục đấu tranh bằng nhiều hình thức như: Hô khẩu hiệu tập thể đòi giải quyết các yêu sách, đòi gặp trưởng trại, gặp chúa đảo để nêu kiến nghị, đòi giải quyết quyền lợi. Nếu không được giải quyết thì đấu tranh với hình thức cao là tuyệt thực, mổ bụng… làm cho địch phải khiếp sợ, chùn bước”, ông Chu Cấp kể.
“Nhà tù Côn Đảo là trận địa không có tiếng súng mà chiến đấu, chiến thắng kẻ thù bằng khối óc, trái tim quả cảm, bằng nghị lực phi thường và chấp nhận hy sinh để bảo vệ danh dự, khí tiết, phẩm chất chính trị của người cộng sản, người chiến sĩ cách mạng, người lính Cụ Hồ. Để góp phần vào chiến thắng của cả dân tộc, người tù chính trị Côn Đảo đã phải đánh đổi hơn 2 vạn liệt sĩ nằm lại tại mảnh đất thiêng. Côn Đảo chính là “Bàn thờ Tổ quốc giữa biển khơi”…”, bà Trần Thị Hòa, Phó ban Liên lạc chiến sĩ cách mạng Việt Nam bày tỏ.
Nhà tù Côn Đảo là trận địa không có tiếng súng mà chiến đấu, chiến thắng kẻ thù bằng khối óc, trái tim quả cảm, bằng nghị lực phi thường và chấp nhận hy sinh để bảo vệ danh dự, khí tiết, phẩm chất chính trị của người cộng sản, người chiến sĩ cách mạng, người lính Cụ Hồ. Để góp phần vào chiến thắng của cả dân tộc, người tù chính trị Côn Đảo đã phải đánh đổi hơn 2 vạn liệt sĩ nằm lại tại mảnh đất thiêng. Côn Đảo chính là “Bàn thờ Tổ quốc giữa biển khơi”… (Bà TRẦN THỊ HÒA, Phó ban Liên lạc chiến sĩ cách mạng Việt Nam) |
HÀ PHƯƠNG; ảnh: TRẦN HUẤN

RSS