Bảo vệ bản quyền trên môi trường số:
Lấp khoảng trống nhận thức và hệ sinh thái quyền
VHO - Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số đang mở ra nhiều cơ hội cho lĩnh vực sáng tạo, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan. Các hành vi sao chép, phát tán trái phép ngày càng tinh vi, trong khi khoảng trống nhận thức của cả người sáng tạo lẫn người sử dụng vẫn là một trong những nguyên nhân chính khiến tình trạng vi phạm bản quyền tiếp diễn.

Trong bối cảnh đó, xây dựng một hệ sinh thái bản quyền số đồng bộ, gắn việc hoàn thiện quy định pháp luật với ứng dụng công nghệ và nâng cao ý thức tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ được xem là giải pháp căn cơ để bảo vệ thành quả sáng tạo, đồng thời tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
Khoảng trống về nhận thức
Mỗi ngày, hàng triệu video được đăng tải, hàng nghìn bài báo cùng nhiều loại nội dung khác được chia sẻ trên các nền tảng trực tuyến. Đi cùng tốc độ lan truyền ấy là tình trạng đăng lại (re-up), cắt ghép, chỉnh sửa hoặc phát trực tiếp (livestream) diễn ra với tần suất lớn, làm gia tăng nguy cơ phát sinh tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan. Khiếu nại về bản quyền vì thế đã trở thành một trong những nhóm tranh chấp phổ biến trên các nền tảng số.
Theo bà Trần Thị Thùy Dương, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), bên cạnh khả năng lan tỏa mạnh mẽ, môi trường số còn có đặc tính dễ sao chép, khiến các hành vi vi phạm bản quyền diễn ra nhanh chóng, ngày càng tinh vi và mang tính xuyên biên giới.
“Có 4 đặc điểm nổi bật của tình trạng vi phạm bản quyền hiện nay, gồm: Diễn ra thường xuyên; đa dạng về chủ thể thực hiện; có tính xuyên biên giới và liên tục biến hóa về phương thức, thủ đoạn. Khi một hình thức vi phạm bị phát hiện, xử lý, các đối tượng nhanh chóng chuyển sang phương thức mới để tiếp tục hành vi xâm phạm quyền”, bà Trần Thị Thùy Dương cho biết.
Không ít hành vi vi phạm còn bắt nguồn từ việc tổ chức, cá nhân chưa hiểu đầy đủ quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Dẫn ví dụ trong lĩnh vực âm nhạc, bà Dương cho hay, việc khai thác một tác phẩm không dừng ở quyền tác giả mà còn phải bảo đảm quyền liên quan. Quyền tác giả bảo hộ phần sáng tạo của nhạc sĩ, tác giả lời bài hát; quyền liên quan bảo vệ bản ghi âm, ghi hình, cuộc biểu diễn và chương trình phát sóng.
Trên thực tế, do chưa nắm rõ các quy định, nhiều tổ chức, cá nhân chỉ thực hiện thủ tục xin phép đối với một quyền mà bỏ sót quyền còn lại. Bởi vậy, dù đã được phép sử dụng tác phẩm hoặc bản ghi, họ vẫn có thể rơi vào tình trạng xâm phạm quyền liên quan hoặc quyền tác giả. Đây là nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến những vi phạm không xuất phát từ chủ đích.
Một vấn đề khác cần sớm được giải quyết là chế tài xử phạt vi phạm hành chính chưa thật sự đủ sức răn đe. Trong nhiều trường hợp, mức xử phạt còn thấp hơn lợi ích mà đối tượng vi phạm thu được, làm giảm hiệu quả phòng ngừa và ngăn chặn hành vi xâm phạm bản quyền.
Dẫn nguồn là chưa đủ
Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo nền tảng để các giá trị văn hóa, nghệ thuật và sản phẩm nội dung số được khai thác, phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, như Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) Phạm Thị Kim Oanh nêu rõ, không phải mọi nội dung trên Internet đều có thể tự do sử dụng. Việc ghi nguồn, dẫn nguồn hoặc gắn đường link không đồng nghĩa với việc người dùng đã được phép khai thác tác phẩm.
Trước khi sử dụng hình ảnh, video, âm nhạc, bài báo, chương trình phát sóng…, người sáng tạo nội dung số phải xác định rõ nguồn gốc và tình trạng pháp lý của nội dung. Việc khai thác chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của chủ thể quyền, khi nội dung thuộc trường hợp ngoại lệ theo Luật Sở hữu trí tuệ hoặc nằm trong phạm vi đã được nền tảng cấp quyền.
Trước quan điểm cho rằng một số quy định về sở hữu trí tuệ có thể trở thành rào cản đối với hoạt động sáng tạo nội dung, nhất là những sản phẩm mang tính nghệ thuật, ThS Phạm Ngọc Khuê, Khoa Quản lý Văn hóa, Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nhấn mạnh: Tự do sáng tạo nghệ thuật là quyền cơ bản của con người, được Nhà nước bảo trợ thông qua cơ chế bảo hộ bản quyền và hành lang pháp lý minh bạch. Bảo hộ bản quyền vừa giúp bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm, vừa ngăn chặn việc xuyên tạc hoặc lợi dụng nghệ thuật cho các mục đích bất chính, qua đó góp phần gìn giữ các giá trị đạo đức và bảo đảm an toàn văn hóa quốc gia.
Thời gian qua, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng liên tục cảnh báo về những thách thức của môi trường số, đặc biệt là vấn đề bảo vệ bản quyền, trách nhiệm của các nền tảng trung gian, tác động của trí tuệ nhân tạo và yêu cầu tăng cường cơ chế, công nghệ cùng năng lực thực thi. Những vấn đề này cho thấy, nếu không hiện đại hóa chính sách văn hóa theo hướng dựa trên dữ liệu, công nghệ và quản trị liên ngành, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đưa văn hóa trở thành một trong những trụ cột phát triển.
Từ yêu cầu đó, PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, đối với bản quyền số, cần chuyển từ tư duy “chống vi phạm” sang tư duy “xây hệ sinh thái quyền”. Hệ sinh thái này phải bao gồm cơ sở pháp lý rõ ràng về trách nhiệm của nền tảng trung gian; cơ chế thông báo, gỡ bỏ và xử lý tái vi phạm; hạ tầng công nghệ phục vụ đăng ký, xác thực, theo dõi và truy vết quyền; mô hình cấp phép, thanh toán bản quyền thuận tiện; cùng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp nền tảng, đơn vị công nghệ và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế và hạ tầng công nghệ, năng lực của đội ngũ thực thi tại địa phương cũng cần được nâng cao, đồng thời tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp nền tảng, tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và các đơn vị công nghệ. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào quá trình sản xuất, phân phối nội dung, Việt Nam cần chủ động hoàn thiện hạ tầng của hệ sinh thái quyền, thay vì tiếp tục chạy theo xử lý từng vụ việc đơn lẻ.

RSS