Văn hóa trong bài toán tăng trưởng hai con số:
Kỳ cuối - Để văn hóa góp sức tăng trưởng hai con số
VHO - Văn hóa có thể tạo thêm sản phẩm, việc làm và thu nhập từ nhiều lĩnh vực. Để mở rộng những đóng góp ấy, cần tháo đúng điểm nghẽn, đưa nguồn lực tới khâu tạo năng lực mới và đo kết quả bằng dữ liệu đáng tin cậy. Mục tiêu tăng trưởng phải được cụ thể hóa thành công việc và trách nhiệm thực hiện.

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa được phê duyệt tại Quyết định 2486/ QĐ-TTg ngày 14.11.2025 đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP vào năm 2030. Đây là mục tiêu chính sách, chưa phải kết quả đã đạt. Tỉ trọng trong GDP cũng là đại lượng khác với số điểm phần trăm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Sự phân biệt ấy đưa cuộc thảo luận về đúng việc cần làm. Để tăng phần đóng góp, phải có thêm giá trị được tạo ra từ sản xuất và dịch vụ, năng suất tốt hơn hoặc nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn. Với văn hóa, câu hỏi cụ thể là tác phẩm nào đến được người mua, tài sản nào được vận hành tốt và người sáng tạo có điều kiện làm việc ra sao.
Tháo đúng chỗ đang nghẽn
Những câu chuyện từ phòng vé, tour di sản, nội dung số, làng nghề và không gian sáng tạo cho thấy trở ngại không giống nhau. Doanh nghiệp có tác phẩm nhưng thiếu phân phối cần giải pháp khác đơn vị có địa điểm nhưng chưa có chương trình. Cơ sở sản xuất cần tiêu chuẩn và người mua không thể được hỗ trợ đầy đủ chỉ bằng một hoạt động quảng bá.
Trước mỗi đề xuất chính sách, cần phân biệt ba nhóm vấn đề: Quy định chưa phù hợp, thực thi chưa thuận lợi và năng lực chủ thể còn hạn chế. Nhầm lẫn giữa chúng sẽ dẫn tới cách xử lý thiếu hiệu quả. Sửa một quy định không tự động làm doanh nghiệp biết nghiên cứu thị trường, đào tạo doanh nghiệp cũng không thay thế việc tháo gỡ một thủ tục đang gây trở ngại.
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 đặt ra định hướng về công nghệ, doanh nghiệp văn hóa, thiết chế và hợp tác công tư. Ngày 24.2.2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 30/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80. Những căn cứ này tạo cơ sở để chuyển chủ trương thành các nhiệm vụ triển khai cụ thể.
Một chuyển động có thể xác định rõ về thời điểm là Thông tư 09/2026/ TT-BVHTTDL quy định phân cấp thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ VHTTDL, có hiệu lực từ ngày 1.6.2026. Đánh giá tác động thực tế cần xem quá trình xử lý hồ sơ, khả năng tiếp cận thông tin và chi phí tuân thủ của người sử dụng dịch vụ hành chính. Cải cách cần được nhìn từ toàn bộ hành trình của chủ thể. Một doanh nghiệp tổ chức chương trình có thể làm việc với nhiều đầu mối; một đơn vị vận hành thiết chế phải xử lý những quan hệ khác nhau về nội dung, tài sản và tài chính. Thông tin rõ về thẩm quyền, yêu cầu và thời hạn giúp họ dự tính công việc, đồng thời tạo căn cứ giám sát. Đối với các mô hình hợp tác mới, cần phân biệt định hướng đã được nêu với cơ chế cụ thể đang có hiệu lực. Mỗi dự án phải xác định căn cứ áp dụng, phạm vi khai thác và trách nhiệm của các bên. Làm rõ điều này bảo vệ cả người quản lý lẫn nhà đầu tư, giảm tình trạng chờ đợi vì không biết quyết định thuộc về ai.
Một cách làm thiết thực là tập hợp các trường hợp vướng mắc có hồ sơ cụ thể và phân loại theo cơ quan xử lý. Kết quả cần được phản hồi công khai ở mức phù hợp: việc nào đã giải quyết, việc nào cần sửa quy định, việc nào doanh nghiệp phải hoàn thiện năng lực. Diễn đàn chính sách có giá trị khi tạo được sự tiến triển ấy sau cuộc họp.

Bảng phân việc cho tăng trưởng văn hóa
Cơ quan quản lý văn hóa: Rà soát điểm nghẽn sản xuất, thị trường, bản quyền và phản hồi kết quả xử lý.
Cơ quan thống kê, tài chính: Phối hợp chuẩn hóa phạm vi đo lường, dữ liệu nền và đánh giá sử dụng nguồn lực.
Địa phương: Chọn lĩnh vực ưu tiên, hoàn thiện hạ tầng dịch vụ và theo dõi việc làm, thu nhập cộng đồng.
Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp: Đầu tư sản phẩm, nhân lực, phân phối; công khai kết quả theo nghĩa vụ và mục tiêu hoạt động.
Cơ sở đào tạo, hiệp hội, báo chí: Cung cấp tri thức, kết nối thị trường và giám sát thực hiện.
Mỗi đầu việc cần có đơn vị chịu trách nhiệm, thời hạn và kết quả kiểm chứng.
Nguồn lực phải tạo được năng lực mới
Đầu tư công cho văn hóa cần làm tốt những nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung và tạo điều kiện cho xã hội sáng tạo. Bảo tồn, dữ liệu, đào tạo, hạ tầng dùng chung và cơ hội tiếp cận cho nhóm khó khăn là những hướng có thể đem lại lợi ích rộng. Hiệu quả phải được đánh giá theo chức năng của từng khoản đầu tư.
Với công trình, phương án vận hành cần được chuẩn bị cùng phương án xây dựng. Với số hóa, cần xác định ai sử dụng dữ liệu, quyền tiếp cận ra sao và kinh phí cập nhật từ đâu. Với đào tạo, phải biết người học sẽ đáp ứng công việc nào. Một đầu ra được nghiệm thu chưa đồng nghĩa năng lực mới đã được hình thành trong thực tế.
Nguồn lực tư nhân có thể mở rộng sản xuất, thử nghiệm sản phẩm và phát triển thị trường khi cơ hội và rủi ro đủ rõ. Chính sách hỗ trợ cần minh bạch về đối tượng, điều kiện và kết quả. Doanh nghiệp có phương án khả thi phải có cơ hội tiếp cận, trong khi trách nhiệm sử dụng nguồn lực được theo dõi nhất quán.
Vốn cho sáng tạo cũng cần được thiết kế theo đặc điểm dự án. Một tác phẩm thường trải qua nhiều giai đoạn có mức rủi ro khác nhau, từ phát triển ý tưởng tới sản xuất và phân phối. Hỗ trợ có thể gắn với mốc công việc và đánh giá chất lượng, giúp kiểm soát rủi ro mà vẫn dành không gian cho thử nghiệm.
Tài sản trí tuệ có thể có giá trị thương mại, nhưng để đưa vào phương án huy động vốn cần hồ sơ quyền, cơ sở định giá và khả năng khai thác đáng tin cậy. Không nên coi mọi tác phẩm đều tự động trở thành tài sản bảo đảm có thể sử dụng ngay. Những đề xuất thí điểm cần được cơ quan có thẩm quyền xem xét trong khuôn khổ pháp luật, với giới hạn và cơ chế đánh giá rõ.
Địa phương nên bắt đầu từ năng lực thực tế. Nơi có hệ thống di sản và dịch vụ phù hợp có thể ưu tiên trải nghiệm văn hóa, nơi tập trung nhân lực công nghệ có thể phát triển nội dung số, địa bàn có làng nghề cần thiết kế và phân phối. Lựa chọn có trọng tâm giúp nguồn lực đủ tập trung để tạo kết quả, thay vì mỗi nơi cùng sao chép nhiều mô hình.
Liên kết vùng cũng có thể giúp chia sẻ chi phí. Một chương trình biểu diễn có thể được tổ chức theo tuyến, cơ sở đào tạo phục vụ nhiều địa phương, hạ tầng kỹ thuật được sử dụng cho nhiều dự án phù hợp. Điều kiện là thỏa thuận rõ về lịch, chất lượng, chi phí và quyền lợi, tránh biến liên kết thành tên gọi của những hoạt động riêng lẻ.
Cùng với vốn và công nghệ, văn hóa thực thi quyết định chất lượng sử dụng nguồn lực. Trách nhiệm, trung thực, đúng hẹn và tôn trọng hợp đồng giúp giảm những chi phí có thể phòng tránh. Nêu cao các giá trị này phải đi cùng quy trình, cơ chế giám sát và cách đánh giá cán bộ, doanh nghiệp bằng công việc cụ thể.
Đo được đóng góp, rõ được trách nhiệm
Đo lường văn hóa là một công việc chuyên môn cần phối hợp giữa cơ quan quản lý ngành và cơ quan thống kê. Viện Thống kê UNESCO duy trì Khung thống kê văn hóa, với các cập nhật phản ánh thay đổi trong hoạt động văn hóa và số hóa. Kinh nghiệm này cho thấy muốn đánh giá đóng góp, trước hết phải thống nhất phạm vi và khái niệm.
Đối với Việt Nam, cần xác định hoạt động nào thuộc phạm vi thống kê công nghiệp văn hóa, đơn vị nào thực hiện và dữ liệu được thu thập ra sao. Doanh nghiệp có nhiều mảng hoạt động phải được phân loại phù hợp. Số thu của toàn bộ tập đoàn không thể thay cho phần giá trị của một lĩnh vực chỉ vì doanh nghiệp có tham gia sản xuất nội dung.
Giá trị gia tăng cũng khác tổng doanh thu. Qua một chuỗi sản xuất, sản phẩm của đơn vị này có thể trở thành đầu vào của đơn vị khác. Cộng doanh thu các khâu mà không xử lý giao dịch trung gian sẽ làm phóng đại quy mô. Khi tính tăng trưởng thực, còn cần xử lý biến động giá để tránh nhầm tăng giá bán với tăng lượng giá trị sản xuất.
Tác động lan tỏa cần phương pháp riêng. Chi tiêu của khách đến một lễ hội có thể nằm trong doanh thu lưu trú, ăn uống và vận tải. Nếu đã được ghi nhận ở các ngành ấy, không thể cộng lại toàn bộ như một khoản GDP độc lập của văn hóa. Có thể phân tích vai trò kích thích của sự kiện, nhưng phải nêu rõ cách ước tính và phạm vi.
Nếu xét toàn ngành VHTTDL, du lịch và thể thao cần được nhận diện với phạm vi phù hợp. Một giải thể thao có thể tạo nhu cầu lưu trú và biểu diễn đi kèm; một chuyến đi có thể kết hợp nhiều mục đích. Hệ thống thống kê cần tránh tính nhiều lần cùng một khoản chi chỉ vì nó liên quan tới nhiều hoạt động.
Trách nhiệm thực hiện có thể bắt đầu bằng một số công việc rõ ràng. Cơ quan quản lý văn hóa rà soát môi trường sản xuất và thị trường; cơ quan thống kê phối hợp xây dựng dữ liệu nền; địa phương lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và theo dõi tác động; doanh nghiệp báo cáo kết quả trên cơ sở nhất quán. Cơ sở đào tạo, hiệp hội và báo chí hỗ trợ tri thức, kết nối và giám sát.
Kết quả nên được công bố theo chu kỳ phù hợp, có giải thích khi thay đổi phạm vi hoặc phương pháp. Dữ liệu tốt giúp nhìn thấy cả lĩnh vực tăng nhanh lẫn nơi đang khó khăn, từ đó điều chỉnh chính sách. Chỉ lựa chọn những con số thuận lợi sẽ khiến quyết định đầu tư thiếu căn cứ và làm giảm niềm tin vào các báo cáo thành tích.
Bên cạnh đóng góp kinh tế, cần theo dõi quyền tiếp cận, chất lượng bảo tồn và lợi ích của người lao động, cộng đồng. Những hoạt động giáo dục, gìn giữ nghệ thuật hoặc phục vụ nhóm yếu thế có mục tiêu công riêng. Yêu cầu phát triển kinh tế không làm mất trách nhiệm bảo đảm những giá trị ấy trong chính sách văn hóa.
Tăng trưởng hai con số đặt ra đòi hỏi mới về quy mô và chất lượng đóng góp. Ngành văn hóa có thể đáp ứng bằng năng lực sáng tạo, thị trường và những giá trị giúp xã hội hợp tác tốt hơn. Khi mục tiêu được chuyển thành sản phẩm, việc làm, trách nhiệm và kết quả kiểm chứng, văn hóa sẽ có vị trí rõ ràng hơn trong quyết sách phát triển của đất nước.

RSS