Luật Phát triển công nghiệp văn hóa - Mở khóa nguồn lực, kiến tạo động lực mới:

Kỳ 3 - Xây hệ sinh thái để người sáng tạo không phải “tự bơi”

DUY PHONG

VHO - Công nghiệp văn hóa được sinh ra từ tài năng cá nhân, nhưng không thể phát triển chỉ bằng những cá nhân tài năng. Đằng sau một sản phẩm thành công luôn là cả hệ sinh thái gồm trường học, studio, doanh nghiệp, nhà đầu tư, công nghệ, không gian sáng tạo, dữ liệu, phân phối và thị trường. Vì vậy, một trong những thách thức của Việt Nam hiện nay không phải thiếu người có khả năng sáng tạo, mà là làm sao để họ không phải đơn độc “tự bơi” giữa hệ sinh thái còn nhiều khoảng trống.

Kỳ 3 - Xây hệ sinh thái để người sáng tạo không phải “tự bơi” - ảnh 1
Không gian sáng tạo tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm kết nối nhà thiết kế, sản phẩm sáng tạo và công chúng. Nguồn ảnh: TTXVN

Từ vài không gian sáng tạo đến những hệ sinh thái thực sự

Ở nhiều đô thị Việt Nam đã xuất hiện những không gian nghệ thuật, xưởng thiết kế, khu biểu diễn, studio, phố sáng tạo và các mô hình cải tạo công trình cũ thành nơi giao lưu văn hóa. Chúng tạo ra những cộng đồng nhỏ đầy năng lượng, nhưng phần lớn vẫn tồn tại như những “ốc đảo”: Quy mô hạn chế, mặt bằng thiếu ổn định, ít liên kết với doanh nghiệp, trường học, quỹ đầu tư và mạng lưới phân phối.

Một ngành công nghiệp muốn phát triển cần một mức độ tập trung cao hơn. Nhà làm phim cần trường quay, hậu kỳ, thiết bị, kỹ thuật viên và nhà phát hành ở gần nhau. Doanh nghiệp game cần kỹ sư, họa sĩ, nhạc sĩ, chuyên gia bản quyền, nhà đầu tư và các nền tảng công nghệ. Một khu di sản muốn tạo ra công nghiệp trải nghiệm cần kết nối bảo tàng, biểu diễn, ẩm thực, thiết kế, lưu trú, thương mại, nội dung số và giao thông.

Dự thảo Luật đã đưa các khái niệm tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa vào cấu trúc hạ tầng của ngành. Những dự án này có thể được thực hiện từ vốn đầu tư công, hợp tác công - tư hoặc vốn doanh nghiệp, đồng thời mở cơ chế xem xét chuyển đổi những khu vực đã hình thành hoạt động sáng tạo thành tổ hợp hoặc cụm được công nhận. Giá trị của mô hình này không nằm ở cái tên “khu công nghiệp sáng tạo”, mà ở hiệu ứng tập trung. Khi doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, trường học, dịch vụ hậu cần, tài chính, công nghệ và thị trường được đặt trong cùng một hệ sinh thái, chi phí kết nối giảm xuống, cơ hội hợp tác tăng lên và tri thức lưu chuyển nhanh hơn.

Điều cần tránh là tư duy xây khu trước rồi mới tìm hoạt động sau. Một creative hub không thể chỉ gồm các tòa nhà đẹp. Nó phải được sinh ra từ một cộng đồng sáng tạo có thật, nhu cầu thị trường có thật và một mô hình vận hành đủ linh hoạt. Vì thế, cùng với xây dựng những khu mới, cần mạnh dạn tái sử dụng các nhà máy, kho bãi, công trình công và mặt bằng sử dụng kém hiệu quả thành không gian sáng tạo thông qua cơ chế thuê dài hạn, minh bạch và gắn với kết quả hoạt động.

Hạ tầng của công nghiệp văn hóa còn nằm trên “đám mây”

 Công nghiệp văn hóa không thể phát triển từ những tài năng đơn lẻ. Một ý tưởng muốn đi tới thị trường cần hệ sinh thái gồm không gian sáng tạo, doanh nghiệp, trường học, công nghệ, dữ liệu, tài chính và phân phối. Khi các mắt xích được kết nối, tri thức lưu chuyển nhanh hơn và người sáng tạo có điều kiện biến ý tưởng thành sản phẩm. Hệ sinh thái đó cũng phải mở rộng trên không gian số, nơi dữ liệu văn hóa được chuẩn hóa, định danh và khai thác minh bạch.

Thị trường đồng thời cần nhân lực “lai”, vừa hiểu nghệ thuật, công nghệ, vừa biết quản trị quyền và phân phối toàn cầu. Xây dựng hệ sinh thái đủ mạnh chính là cách để người sáng tạo không phải “tự bơi”, để tài năng có cơ hội tạo ra giá trị mới.

Nếu hạ tầng của thế kỷ trước chủ yếu là nhà hát, bảo tàng, trường quay, thư viện thì hạ tầng của công nghiệp văn hóa hiện đại còn nằm trong các trung tâm dữ liệu, nền tảng số và hệ thống định danh. Một tác phẩm ngày nay có thể được sáng tạo ở Hà Nội, hậu kỳ ở TP.HCM, bán bản quyền tại Seoul và tiếp cận khán giả châu Âu trên một nền tảng xuyên biên giới. Không có hạ tầng số, chuỗi giá trị ấy khó vận hành.

Dự thảo coi hạ tầng dữ liệu văn hóa số là cấu phần cốt lõi, bao gồm Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, các cơ sở dữ liệu về văn hóa cùng nền tảng, hệ thống và công cụ phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, lưu trữ, kết nối, phân tích và khai thác dữ liệu. Đây là định hướng có ý nghĩa lớn nếu được hiểu rộng hơn việc “số hóa tài liệu”. Một bức tranh, hiện vật hay điệu dân ca được quét thành file số mới chỉ là bước đầu. Để trở thành nguồn lực công nghiệp văn hóa, dữ liệu đó cần được chuẩn hóa, định danh, xác lập tình trạng quyền, cho phép tiếp cận và khai thác theo những điều kiện minh bạch. Khi ấy, nhà làm phim mới có thể sử dụng dữ liệu di sản để dựng bối cảnh, nhà thiết kế có thể phát triển họa tiết, game studio có thể xây nhân vật và trường học có thể tạo học liệu mới.

Càng nhiều dữ liệu được “đóng kho” mà thiếu cơ chế cấp quyền, giá trị kinh tế càng thấp. Vì vậy, cùng với bảo vệ dữ liệu và quyền sở hữu trí tuệ, Luật cần khuyến khích nguyên tắc “mở có kiểm soát”: Những gì có thể chia sẻ thì phải được chuẩn hóa để chia sẻ, những gì có quyền thì phải có cơ chế cấp phép rõ ràng, những gì thuộc tài sản công phải có quy trình để xã hội khai thác hợp pháp và tạo ra giá trị mới. Đó mới là lúc di sản số trở thành nguyên liệu cho công nghiệp sáng tạo chứ không chỉ là một kho lưu trữ điện tử.

Công nghiệp sáng tạo trước hết là công nghiệp của con người

Dù công nghệ phát triển đến đâu, điểm khởi đầu của công nghiệp văn hóa vẫn là con người. Nhưng nhân lực mà lĩnh vực này cần đã khác trước. Một họa sĩ giỏi chưa chắc đã biết phát triển IP, một nghệ sĩ giỏi nghề chưa chắc biết xây dựng thương hiệu, một kỹ sư game giỏi kỹ thuật có thể thiếu kiến thức văn hóa, một người quản trị doanh nghiệp lại chưa chắc hiểu quy trình sáng tạo.

Thị trường đang cần ngày càng nhiều nhân lực “lai”: Vừa hiểu nghệ thuật vừa hiểu công nghệ, vừa hiểu sáng tạo vừa hiểu thị trường, vừa quản trị quyền vừa có năng lực phân phối quốc tế. Trong khi đó, cách đào tạo theo từng ngành khép kín dễ khiến nhà trường đi sau nhu cầu thực tiễn.

Dự thảo Luật đã mở một hướng đáng chú ý khi cho phép tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân và chuyên gia; khuyến khích đào tạo liên ngành; tổ chức đào tạo gắn với dự án, sản phẩm, studio, nhà hát, bảo tàng, doanh nghiệp và nền tảng số. Đây là điểm cần được đẩy mạnh khi hoàn thiện chính sách. Trong lĩnh vực sáng tạo, nhiều năng lực không thể học chỉ trong giảng đường. Một nhà sản xuất phim phải học từ phim trường, một nhà thiết kế phải hiểu dây chuyền sản xuất, một nhà quản trị nghệ thuật phải bước vào thị trường, một người làm game phải hiểu hành vi người dùng toàn cầu.

Cũng cần có cách nhìn rộng hơn về nhân tài. Không nên để những tiêu chuẩn hành chính về bằng cấp trở thành rào cản đối với nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia quốc tế hay người có năng lực đặc biệt. Việc dự thảo mở cơ chế để nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy và có chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao là một tín hiệu tích cực, nhưng khi triển khai phải đủ linh hoạt để cạnh tranh được với khu vực tư nhân và thị trường quốc tế.

Sáng tạo thường bắt đầu từ một con người. Nhưng để một ý tưởng đi hết con đường từ bàn làm việc đến thị trường toàn cầu, phía sau người ấy phải là một hệ thống đủ mạnh. Xây dựng hệ sinh thái chính là cách để tài năng không phải lãng phí thời gian phá từng rào cản mà có thể tập trung vào việc quan trọng nhất: Tạo ra những thứ mới. Một quốc gia muốn xây công nghiệp văn hóa không đơn thuần cần nhiều nghệ sĩ giỏi. Quốc gia ấy cần một môi trường khiến người giỏi muốn ở lại, người trẻ muốn bước vào, người tài ở khắp nơi muốn tìm đến và ý tưởng tốt có đủ điều kiện trở thành sản phẩm. 

(Còn tiếp)