Du xuân Lam Kinh – về miền địa linh tri ân bậc khai quốc

NGUYỄN LINH

VHO - Mỗi độ xuân về, Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh (Thanh Hóa) lại trở thành điểm hẹn linh thiêng. Tết Bính Ngọ 2026, không chỉ mở cửa miễn phí phục vụ nhân dân và du khách, Lam Kinh còn tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc, tái hiện không gian “Tết xưa – Tết nay”, góp phần lan tỏa giá trị lịch sử triều Lê và bồi đắp mạch nguồn văn hóa dân tộc trong nhịp sống đương đại.

Du xuân Lam Kinh – về miền địa linh tri ân bậc khai quốc - ảnh 1
Không gian Lam Kinh rực rỡ sắc xuân với cờ hội, hoa cảnh, tái hiện điểm nhấn “Tết xưa – Tết nay” trong khu di tích gắn với triều đại Hậu Lê

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Anh hùng dân tộc Lê Lợi phát động và lãnh đạo trong suốt 10 năm (1418 – 1427) đã đi đến thắng lợi, quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, mở ra kỉ nguyên độc lập lâu dài cho Đại Việt.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế tại Đông Kinh (Thăng Long – Hà Nội ngày nay), lấy niên hiệu Thuận Thiên, xưng là Lê Thái Tổ, mở đầu cho triều đại Hậu Lê, triều đại phát triển rực rỡ và kéo dài bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với 360 năm tồn tại.

Sau khi lên ngôi, năm 1430, Lê Thái Tổ cho đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô thành Tây Kinh, còn gọi là Lam Kinh (Thanh Hóa), quê hương phát tích của triều Lê.

Đồng thời, để tôn vinh vùng đất tổ, nhà vua cho xây dựng các công trình điện, miếu, lăng tẩm tại đây. Năm 1433, vua Lê Thái Tổ băng hà tại Thăng Long, được đưa về Lam Kinh an táng.

Từ đó, Lam Kinh trở thành khu sơn lăng của triều Hậu Lê, nơi yên nghỉ của 6 vị vua và 2 hoàng thái hậu, gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông; cùng Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao và Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyên.

Không chỉ là đất lăng tẩm, Lam Kinh còn là trung tâm tâm linh, chính trị đặc biệt, nơi các công trình điện miếu được xây dựng để thờ cúng tổ tiên và hoàng tộc triều Lê, kết tinh tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

Miền di sản giữa non xanh nước biếc

Bước qua Cầu Bạch cong cong, duyên dáng uốn mình qua khe Ngọc, du khách như được dẫn lối vào một không gian cổ kính, tĩnh tại. Lam Kinh hiện ra với vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên: những tòa điện, miếu, lăng tẩm ẩn mình dưới tán rừng xanh, soi bóng xuống hồ nước, sông Chu uốn lượn như dải lụa mềm bao bọc.

Nhìn từ trên cao, toàn bộ khu nội thành Lam Kinh giống như cánh khổng tước khổng lồ đang dang rộng giữa đại ngàn Lam Sơn. Vòng trong có Tây Hồ bao bọc hai mặt; vòng ngoài là sông Chu tạo thành “vành đai nước” tự nhiên, đúng như sách xưa từng miêu tả: “Điện Lam Kinh đằng sau gối đầu vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên nước non xanh biếc”.

Du xuân Lam Kinh – về miền địa linh tri ân bậc khai quốc - ảnh 2
Bảo vật Quốc gia bia Vĩnh Lăng ở Khu Di tích lịch sử Lam Kinh được các nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những tấm bia thời Lê sơ có niên đại lịch sử lâu đời, to và đẹp nhất Việt Nam hiện nay

Hơn hai thập kỉ qua, nhiều dự án bảo tồn, phục dựng đã được triển khai tại Khu di tích Lam Kinh, tiêu biểu như: Chính điện, Thái miếu, Nghinh môn, sân Rồng, Cầu Bạch, khe Ngọc, giếng cổ và hệ thống công trình bảo vệ các lăng mộ, bia đá.

Trong đó, Chính điện Lam Kinh được ví như “linh hồn” của toàn bộ quần thể. Khởi công phục dựng năm 2010 trên nền móng cũ, Chính điện Lam Kinh được dựng lại bằng hơn 2.000m³ gỗ lim, với kĩ thuật mộc truyền thống và hoa văn trang trí được phục chế theo kết quả khai quật khảo cổ học.

Công trình mang đậm phong cách kiến trúc thời Lê, được giới chuyên môn đánh giá là một trong những kiến trúc gỗ lớn và phức tạp bậc nhất hiện nay. Nội thất điện được chạm khắc tinh xảo, bề thế, toát lên vẻ uy nghiêm và thành kính.

Trong quần thể Lam Kinh hiện có 6 khu lăng mộ và 5 tấm bia kí của các vua, hoàng hậu triều Lê, đều là bảo vật quốc gia. Tiêu biểu nhất là bia Vĩnh Lăng, bia của vua Lê Thái Tổ, dựng năm 1433, ghi chép thân thế và sự nghiệp của vị anh hùng khai quốc.

Bia đặt trên lưng rùa đá, chạm khắc tinh tế, là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc về điêu khắc và văn bia cổ Việt Nam. Bia Chiêu Lăng (bia vua Lê Thánh Tông) cũng nổi bật với trọng lượng khoảng 13 tấn, được tạc từ đá xanh nguyên khối, trang trí hình rồng chầu tinh xảo, ghi công lao của vị minh quân bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Mỗi lăng mộ, mỗi tấm bia ở Lam Kinh đều là một “trang sử đá”, kể lại câu chuyện về một thời Đại Việt hưng thịnh, về những con người đã đặt nền móng cho quốc gia độc lập, cường thịnh.

Với giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Lam Kinh được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962 và đến năm 2012 được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Đây không chỉ là niềm tự hào của xứ Thanh mà còn là di sản chung của cả dân tộc.

Không gian Tết xưa – Tết nay giữa miền lịch sử

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh mở cửa miễn phí từ ngày 16 – 19.2 (tức từ 29 tháng Chạp đến hết mùng 3 Tết) để phục vụ nhân dân và du khách du xuân, dâng hương, tri ân các bậc tiền nhân.

Du xuân Lam Kinh – về miền địa linh tri ân bậc khai quốc - ảnh 3
Chính điện Lam Kinh – trung tâm linh thiêng của quần thể di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, điểm đến du xuân, dâng hương tri ân các bậc tiền nhân mỗi độ Tết đến, Xuân về

Cùng với việc miễn phí vé tham quan, Ban Quản lý Di sản Thành nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo chỉnh trang toàn bộ khuôn viên di tích, tạo dựng cảnh quan đón xuân.

Cờ hội, băng rôn “Mừng Xuân Bính Ngọ 2026” được treo dọc các tuyến đường; hoa đào, quất cảnh, tiểu cảnh truyền thống được bài trí hài hòa, tạo nên không gian Tết vừa trang nghiêm, vừa ấm áp.

Một điểm nhấn đáng chú ý là hoạt động trưng bày, triển lãm ảnh về lịch sử và cảnh quan Lam Kinh. Dọc tuyến đường Nam Cầu Bạch bố trí pano tuyên truyền về văn hóa ứng xử trong lễ hội; tại Nhà trưng bày giới thiệu hệ thống lăng mộ, bia kí, bảo vật quốc gia và công tác bảo tồn di tích.

Thời gian trưng bày kéo dài từ ngày 20.1 đến 30.3.2026, góp phần giúp du khách hiểu sâu hơn về giá trị di sản. Không gian check-in ngày Tết với chủ đề “Tết xưa – Tết nay” cũng được tổ chức, tái hiện hình ảnh mâm ngũ quả, câu đối đỏ, linh vật và hoa xuân.

Qua đó, người dân, nhất là thế hệ trẻ, có dịp cảm nhận rõ nét không khí Tết cổ truyền trong không gian lịch sử, thêm trân trọng và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Song song với các hoạt động trưng bày, lễ hội thư pháp cho chữ đầu xuân được tổ chức như một nét đẹp truyền thống, gửi gắm ước vọng về một năm mới an khang, thịnh vượng và bình an.

Trong chuỗi hoạt động mừng xuân, lễ khai hội tại đền thờ vua Lê Thái Tổ sẽ diễn ra vào ngày mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ (20.2) với nghi thức dâng hương, tế lễ tri ân vị vua khai quốc và nghĩa sĩ Lam Sơn.

Phần hội có các trò diễn dân gian, nổi bật là Xuân Phả, loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của xứ Thanh đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 

Tiếp đó, lễ hội mùa xuân tại đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai (xã Kiên Thọ) được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng (24.2) nhằm tưởng nhớ công lao hi sinh thân mình cứu chúa của vị anh hùng Lê Lai.

Phần lễ gồm nghi thức dâng hương, tế truyền thống; phần hội có nhiều hoạt động văn hóa, thể thao dân gian như ném còn, múa cồng chiêng, Pồn Pông và giao lưu thể thao, tạo không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng.

Chia sẻ về công tác chuẩn bị phục vụ nhân dân và du khách dịp Tết, đại diện Ban Quản lý Di sản Thành nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa cho biết: “Với tinh thần trách nhiệm cao nhất, đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng triển khai đồng bộ các biện pháp chỉnh trang cảnh quan, bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và an toàn cho du khách khi về tham quan, chiêm bái tại Khu di tích Lam Kinh.

Các hoạt động văn hóa, lễ hội được tổ chức theo hướng trang nghiêm, tiết kiệm, phù hợp thuần phong mỹ tục, qua đó góp phần phát huy giá trị di sản gắn với giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ”.

Đại diện Ban Quản lý cũng nhấn mạnh, với chuỗi hoạt động mừng xuân Bính Ngọ 2026, Lam Kinh không chỉ là điểm đến du lịch tâm linh đầu năm mà còn là không gian văn hóa – lịch sử sống động, giúp lan tỏa tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ, bảo vệ di sản trong cộng đồng.