Đền Bà Đế - thờ người con gái hồng nhan bạc mệnh dưới chân núi Độc
VHO - Vào mỗi buổi chiều, khi mặt trời dần khuất sau chân núi Độc, để tìm cảm giác bình yên, sâu lắng, du khách có thể đứng dưới gác chuông của đền Bà Đế, Đồ Sơn, Hải Phòng ngắm nhìn cảnh biển. Chiêm ngưỡng khoảnh khắc hoàng hôn buông xuốngđẹp đến nao lòng. Du khách hãy đến và nghe biển hát chiều nay như nhắc nhớ đến một câu chuyện đầy oan khuất về "Đông nhạc Đế bà"…

Nhớ về người con gái bạc mệnh
Đền Bà Đế là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng ở Hải Phòng, thờ người phụ nữ gắn với câu chuyện về Chúa Trịnh. Ngôi đền có thế “tựa núi, hướng biển”, sở hữu cảnh quan đẹp và gắn với sự tích có thật được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Đền Bà Đế không chỉ sở hữu cảnh quan sơn thủy hữu tình mà còn gắn với câu chuyện về cuộc đời bi thương của người con gái hồng nhan bạc phận được thờ phụng tại đây - bà Đào Thị Hương (tức Bà Đế). Theo truyền thuyết, bà là người có mối duyên với Chúa Trịnh Giang. Ngôi đền từng được vua Tự Đức về thăm và ban sắc phong “Đông Nhạc Đế Bà - Trịnh chúa phu nhân”.
Tương truyền, vào thế kỷ XVII, tại vùng phía Đông Nam Ngọc Đồ Sơn có đôi vợ chồng họ Đào hiếm muộn. Hai vợ chồng tu thân, tích đức, cầu xin trời Phật ban cho một mụn con. Cảm động trước lòng thành, trời Phật báo mộng cho người vợ mang thai. Đến ngày sinh nở, một bé gái ra đời và được đặt tên là Đào Thị Hương.
Điều kỳ lạ là từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, người con gái ấy luôn tỏa hương thơm ngát, dung mạo rạng rỡ, được dân gian truyền tụng là có ánh hào quang và thường có mây che mỗi khi xuất hiện.
Càng lớn, nàng càng xinh đẹp, khéo léo, chăm chỉ. Hằng ngày, nàng đi chăn trâu, cắt cỏ, vừa làm việc vừa cất tiếng hát trong trẻo vang vọng núi rừng. Người dân truyền rằng, tiếng hát của nàng Hương khiến chim ngừng hót, sóng lặng vỗ, đất trời như lắng lại để thưởng thức.

Vào năm 1736, chúa Trịnh Giang kinh lý tới Ðồ Sơn. Chúa cùng đoàn người dạo thắng cảnh bằng thuyền rồng trên núi Ðộc. Xúc động trước tiếng hát mượt mà, Chúa truyền cho quân lính đi tìm người có tiếng hát trong trẻo đó. Khi gặp được bà với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, Chúa yêu mến và quyến luyến không rời. Trước khi về kinh đô, Chúa hẹn ngày về đón bà.
Không lâu sau, bà mang thai, trong lòng rất lo sợ, ngày đêm trông ngóng thuyền hoa của Chúa.

Tên Hàng Tổng của làng biết chuyện bà có thai nên đòi phạt tiền. Nhà nghèo, không có tiền nộp phạt, bà bị Hàng Tổng đem ra khu núi Độc rồi dìm xuống biển.
Trước khi chết, bà ngửa mặt lên trời khóc than rằng: “Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống; nhìn mẹ cha, hàng xóm tôi đâu dám quên. Xin trời Phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, trời Phật cho con nổi lên ba lần”.
Quả nhiên, bà đã nổi lên ba lần, khiến mọi người ai nấy đều kinh sợ. Tên Hàng Tổng cùng bọn cường hào, ác bá tìm mọi cách hãm hại bà bằng được. Chúng lấy dây thừng, cối đá thủng buộc vào bụng bà rồi dùng cây sào quấn chặt, cắm xuống biển...
Ít lâu sau, thuyền hoa của Chúa đến rước bà. Biết chuyện oan khuất, Chúa Trịnh Giang vô cùng đau khổ, thương tiếc người con gái bạc mệnh. Chúa Trịnh cho xây đền, lập đàn giải oan cho bà.
Đền Bà sau này cũng được vua Tự Đức về thăm và ban sắc phong: “Đông Nhạc Đế Bà - Trịnh chúa phu nhân”. Trải qua thời gian, ngôi đền trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng linh thiêng, thu hút du khách thập phương về chiêm bái, cầu bình an, may mắn.
Về sau, người dân trong vùng vẫn truyền tai nhau rằng có thể nghe tiếng bà than khóc trong gió biển: “Khi nào dây mục, cối tan thì mối hận thù này mới được gỡ bỏ”.
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người dân miền biển
Từ xa xưa, Lễ hội đền Bà Đế đã mang trong mình những giá trị tâm linh và xã hội sâu sắc. Đây là dịp để nhân dân thực hiện các nghi thức tế lễ, bày tỏ lòng biết ơn và sự tôn kính đối với Bà Đế; đồng thời cầu mong bà ban phúc lành, mùa màng bội thu, đánh bắt thuận lợi và đặc biệt là sự bình an cho những người làm nghề biển.
Lễ hội cũng là cầu nối gắn kết cộng đồng, tạo không gian để người dân địa phương gặp gỡ, giao lưu, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt.

Được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Lễ hội không chỉ là dịp tỏ lòng thành kính với thần linh phù hộ biển cả mà còn thể hiện đậm nét tín ngưỡng và văn hóa bản địa của cộng đồng ngư dân.
Lễ hội xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu và Thần Biển, phản ánh lòng kính trọng và tưởng nhớ công ơn của Bà, trở thành nơi cầu khấn linh thiêng cho cộng đồng ven biển. Người dân đến đền thành tâm cầu Bà che chở, ước mong cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu và biển lặng sóng yên cho ngư dân.

Lễ hội diễn ra với 2 phần chính: phần Lễ tập trung vào các nghi thức tâm linh linh thiêng. Phần Hội bao gồm các hoạt động văn hóa đa dạng. Nghi thức khai hội và rước kiệu diễn ra ngày 24 tháng 2 Âm lịch. Tiêu điểm chính là Lễ rước kiệu Bà Đế từ đền xuống biển. Sau đó, kiệu được rước trở lại đền một cách trang nghiêm. Cuối cùng, nghi thức thể hiện ý nghĩa Bà ban phước cho ngư dân.
Nghi thức Tế lễ chính diễn ra sáng 25 tháng 2 Âm lịch, là phần linh thiêng nhất của Lễ hội, với các bô lão và đại diện làng xã dâng hương, đọc văn tế cầu an và tỏ lòng biết ơn bà.
Phần Hội diễn ra sôi nổi trong 2 ngày với các tiết mục hát chèo, hát văn, múa lân, múa rồng và các trò chơi dân gian, mang không khí rộn ràng cho mọi lứa tuổi.
Nghi thức rước kiệu là điểm nhấn đặc sắc, kiệu trang trí lộng lẫy, được thanh niên khiêng qua các tuyến đường, đi kèm đoàn múa lân, rồng và cờ lọng, tạo vẻ trang nghiêm.
Lễ hội kết hợp hài hòa giữa nghi lễ tâm linh và văn hóa truyền thống, để lại ấn tượng sâu sắc và gắn kết cộng đồng.

Nghi thức Cúng tế được thực hiện với sự cẩn trọng và trang nghiêm. Nghi thức này tuân thủ chặt chẽ theo các lệ tục cổ truyền lâu đời. Đồng thời, thể hiện sự thành kính tối cao với Thần Biển.
Đồ tế lễ thường là các sản vật địa phương tươi ngon nhất. Bên cạnh đó, các loại bánh truyền thống cũng được chuẩn bị công phu, thể hiện lòng tôn kính sâu sắc của người dân.

Đền Bà Đế có cấu trúc đơn giản nhưng trang nhã, được xây dựng tựa vào chân núi Độc, hướng ra biển bao la, tạo nên một công trình kiến trúc độc đáo. Chính điện của đền là nơi thờ Bà Đế cùng cha mẹ bà. Bên trái chính điện là bệ thờ Vua Biển; bên cạnh là nơi thờ Vua Đất, Vua Núi và chúng sinh.
Bên phải gian chính là bàn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu - ba vị nữ thần cai quản đất trời, sông núi. Đối diện với bàn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu là bàn thờ Phật và Đức Đại Vương (Trần Quốc Tuấn) - danh tướng thời Trần.
Ngay trước sân đền là hình ảnh một chiếc thuyền có tượng Bồ Tát, xung quanh được trang trí hình rồng, góp phần làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm cho không gian thờ tự nơi đây.

Nép mình bên núi Độc, hướng ra biển, đền Bà Đế mang đến cho du khách cảm giác thanh tịnh, linh thiêng giữa không gian giao hòa của núi và biển. Tiếng sóng vỗ vào đá hòa cùng sự tĩnh lặng của ngôi đền tạo nên nét đặc biệt, gợi cảm giác như những câu chuyện xưa vẫn còn vọng lại theo thời gian.
Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đền Bà Đế còn là điểm đến được nhiều người tìm về quanh năm để dâng hương, cầu bình an, gửi gắm những mong ước tốt đẹp cho bản thân và gia đình. Với người dân địa phương, hình tượng Bà Đế thể hiện niềm tin về sự chở che, phù hộ và những giá trị nhân văn được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

RSS