Danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn sống mãi ngàn đời trong ký ức người Việt
VHO - Khu Di tích lịch sử- văn hóa đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo (cũ) nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Phòng, mang đậm giá trị văn hoá phi vật thể đặc sắc, thể hiện vai trò quan trọng của di tích trong tâm thức, đời sống tinh thần của người dân thành phố Cảng.

Lễ hội đền Trạng được tổ chức từ ngày 27 – 29 tháng Mười Một Âm lịch hằng năm, với những nghi thức như Lễ Mộc dục, Rước văn, Cáo yết và nhiều chương trình văn hoá văn nghệ của các địa phương (đấu vật, cờ tướng, múa tứ linh, đua thuyền, pháo đất, đu sòng/đu tiên, múa rối cạn, rối nước).
Hằng năm, nhân dịp khai giảng năm học mới, thành phố Hải Phòng còn tổ chức Lễ biểu dương học sinh - sinh viên tiêu biểu xuất sắc, ngay tại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đây là nét văn hóa mới, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, giáo dục về tấm gương sáng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tạo động lực cho thế hệ trẻ phấn đấu trên bước đường học tập và lập nghiệp.

Khu di tích là nơi khắc hoạ rõ nét cuộc đời, sự nghiệp của Danh nhân, học giả, nhà tiên tri, nhà triết học nổi tiếng, ngôi sao sáng chói trên bầu trời đất Việt ở thế kỷ XVI.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, nay thuộc xã Vĩnh Am, thành phố Hải Phòng. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình vọng tộc.

Thuở nhỏ, ông học rất giỏi. Nhưng do xã hội lúc đó nhiều biến động, đến năm 45 tuổi ông mới dự thi.
Liên tiếp 3 kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu, giành học vị cao nhất - Trạng nguyên và được vua Mạc bổ chức Hiệu thư ở Viện Hàn Lâm rồi chuyển sang chức Đại học sĩ Toà Đông Các, sau thăng Tả thị lang Bộ Hình rồi Tả thị lang Bộ Lại, tước Trình Quốc Công.
Làm quan được 8 năm, triều Mạc bất ổn, ông dâng sớ vạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua chấp thuận.
Mùa thu năm Nhâm Dần (1542), ông từ quan về quê dựng Am Bạch Vân mở trường dạy học.
Từ đó cho đến ngoài 90 tuổi ông vẫn làm nghề dạy học, xây dựng con người vì sự tồn vong của dân tộc.
Cho đến mùa đông năm Ất Dậu (1585), ông lâm bệnh nặng và mất, thọ 95 tuổi.
Lễ tang ông được tổ chức rất long trọng. Vua Mạc đã cử Phụ chính triều đình Úng Vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự.
Tháng Giêng năm sau (1586) vua lại ban cấp cho làng Trung Am 3.000 quan tiền, 100 mẫu ruộng để lập đền thờ ông. Tại Đền có gắn biển đề dòng chữ vua ban: Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ- một danh hiệu truy tặng danh dự cao quý.
Sau đó cuộc thế đổi thay, đền đổ nát. Đến năm Vĩnh Hựu (1735) đời Lê Ý Tông dân làng mới trích ruộng công bán đi để có thêm tiền mua gạch xây đền. Năm Minh Mạng thập tứ (1833), đền bị phá rồi lại được xây lại.

Ngôi đền hiện nay được xây dựng đời Bảo Đại, do một Thượng thư trí sĩ người Vĩnh Bảo cùng dân sở tại hưng công. Tại rường đình còn khắc chìm dòng chữ “Bảo Đại Mậu Thìn niên- Mạnh đông Hoàng đại nhật” ghi lại thời gian tôn tạo ngôi đền vào mùa đông năm 1928.
Tại Khu di tích, còn lưu giữ được một số di vật có giá trị, đáng kể phải nói đến hàng loạt các bức đại tự, các đôi câu đối với nội dung ca ngợi quê hương và tài năng, đức độ của Trạng Trình.
Đặc biệt, bức đại tự gian trung tâm thờ chữ cũ: “An Nam Lý Học” câu nói của người xưa, dựa theo sắc phong của vua đời trước tặng cụ, dẫn lời viên sứ thần đầu thời Thanh là Chu Xán ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người am hiểu sâu sắc khoa lý học: “An Nam Lý Học hữu trình tuyền”.
Dưới bức đại tự là đôi câu đối thể hiện quan điểm, nhận thức rằng: dân là gốc của nước đồng thời tỏ rõ tấm lòng yêu nước, thương dân của ông:
“Cổ lai quốc dĩ dân vi bản
Đắc quốc ưng tri tại đắc dân”
(Từ xưa đến nay, nước lấy dân làm gốc
Được nước là nhờ được lòng dân)
Năm 2015, với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, Di tích Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định xếp hạng là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt.
Quần thể Khu Di tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện là tâm điểm của tuyến du lịch Quốc gia được nhiều hãng lữ hành quan tâm đưa vào chương trình du lịch.
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lưu giữ được một số cổ vật đối, đại tự..., trong đó đáng chú ý là bia đá “Từ vũ bi kí...” thời Lê Trung Hưng, năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736) đã bị mờ khá nhiều chữ, không đọc được toàn văn, nội dung bia nhắc đến việc dựng lại đền Nguyễn Bỉnh Khiêm vào năm 1736; bát hương gốm men vàng nâu (thế kỷ XVIII)...
Ngoài ra, trong đền còn lưu giữ một tảng đá xanh hình khối chữ nhật, khắc ba chữ Hán “Trường Xuân Kiều” (Cầu Trường Xuân), tương truyền do đích thân Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi khuyến khích nhân dân địa phương xây dựng cầu.
Ngoài ra, trong đền còn lưu giữ một tảng đá xanh hình khối chữ nhật, khắc 3 chữ Hán “Trường Xuân Kiều” (Cầu Trường Xuân), tương truyền do đích thân Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi khuyến khích nhân dân địa phương xây dựng cầu.

RSS