“Cụm từ “vô điều kiện” để khẳng định rõ tính chất của sự kiện”

THÙY TRANG

VHO - Cuộc gặp với CCB Nguyễn Khắc Nhu diễn ra vào những ngày tháng Tư khi TP.HCM đang bước vào cao điểm các hoạt động kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở tuổi 78, ông vẫn giữ được trí nhớ mạch lạc, chặt chẽ. Trên bàn làm việc, ông đặt một tấm ảnh đã cũ, đó là kỷ vật ông nâng niu, lưu giữ suốt nửa thế kỷ qua.

“Cụm từ “vô điều kiện” để khẳng định rõ tính chất của sự kiện” - ảnh 1
Ông Nguyễn Khắc Nhu (ở giữa) trong một chương trình giao lưu với nhân chứng lịch sử và văn nghệ sĩ tại Trường ĐH Văn hóa TP.HCM. Ảnh: T.TRANG

 Bức ảnh chụp thời khắc trưa 30.4.1975, khi một chiến sĩ Quân giải phóng cầm súng ngắn đi phía sau Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh trong quá trình áp giải từ Dinh Độc Lập sang Đài Phát thanh Sài Gòn. Người chiến sĩ trong ảnh là ông Nguyễn Khắc Nhu, khi đó mới 27 tuổi, là sĩ quan tác chiến, trợ lý tham mưu của Trung đoàn Bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2.

Nếu chậm trễ, giao tranh có thể tiếp tục

“Hơn 50 năm qua, những ký ức ngày đặc biệt đó vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, và tôi luôn giữ tấm ảnh này như một chứng nhân lịch sử”, ông Nhu bồi hồi. Ông nhập ngũ năm 1967 tại Hà Nội khi mới 19 tuổi. Trước đó, ông là kỹ thuật viên của Đài điện thoại tự động thuộc Sở Bưu điện Hà Nội. Trong bối cảnh thanh niên thời đó đồng loạt lên đường ra trận, ông cũng viết đơn tình nguyện để được nhập ngũ.

Sau huấn luyện, ông hành quân vào chiến trường B, tham gia nhiều chiến dịch lớn. Tháng 1.1968, ông có mặt tại Khe Sanh. Đến năm 1972, ông đã là Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát, Trung đoàn Bộ binh 66. Năm 1974, đơn vị của ông tham gia chiến dịch Thượng Đức (Quảng Nam - Đà Nẵng), sau đó tiếp tục tiến công giải phóng Đà Nẵng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại miền Trung, Trung đoàn Bộ binh 66 được lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây là giai đoạn cao điểm, yêu cầu hiệp đồng tác chiến giữa nhiều lực lượng, trong đó Trung đoàn Bộ binh 66 thuộc mũi thọc sâu của Quân đoàn 2, phối hợp cùng Lữ đoàn xe tăng 203 và các đơn vị pháo binh, công binh, hậu cần…

“Cụm từ “vô điều kiện” để khẳng định rõ tính chất của sự kiện” - ảnh 2
Tấm ảnh Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ (bìa phải) cùng đồng đội áp giải ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu ra Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng. Ông Nguyễn Khắc Nhu là chiến sĩ cầm súng ngắn đi phía sau ông Dương Văn Minh

Theo CCB Nguyễn Khắc Nhu, các nhiệm vụ được giao rất cụ thể trên bản đồ tác chiến: Trung đoàn Bộ binh 66 đảm nhiệm các mục tiêu trọng yếu, gồm Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bộ Quốc phòng và một số cơ quan đầu não khác của chính quyền Sài Gòn. Rạng sáng 30.4.1975, sau khi hoàn tất các bước chuẩn bị, đơn vị bắt đầu tiến công vào nội đô Sài Gòn theo hướng xa lộ Biên Hòa (nay là Xa lộ Hà Nội). Ông nhớ lại, đây là lần đầu tiên nhiều chiến sĩ từ chiến trường rừng núi xuống đô thị, nên không tránh khỏi bỡ ngỡ về địa hình.

“Tới khu vực Hàng Xanh, có quá nhiều ngã rẽ, chúng tôi không xác định được hướng đi. Sau đó phải nhờ một người dân cầm cờ đứng lên xe chỉ huy dẫn đường vào Dinh Độc Lập”, ông kể.

Mũi thọc sâu của Trung đoàn Bộ binh 66 sử dụng một xe Jeep thu được của đối phương tại Đà Nẵng làm xe chỉ huy. Trên xe có Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ, ông Nguyễn Khắc Nhu, lái xe, chiến sĩ thông tin, truyền đạt, vệ binh. Khoảng trưa 30.4, khi tiếp cận Dinh Độc Lập, lực lượng xe tăng Lữ đoàn 203 đã có mặt. Hai xe tăng số hiệu 390 và 843 tiến vào cổng Dinh. Sau khi một xe tăng húc đổ cổng chính, xe Jeep của tổ chỉ huy lập tức theo sau tiến vào trong. “Mọi thứ diễn ra rất nhanh, dồn dập, gần như không có thời gian để suy nghĩ”, ông nói.

Theo ông, bên trong Dinh hầu như không có sự chống cự. Các chiến sĩ nhanh chóng tiếp cận khu trung tâm. Đến chân cầu thang, một người mặc thường phục tự giới thiệu là Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Hạnh cho biết toàn bộ nội các đang chờ ở phòng họp trên lầu. Khi lực lượng Quân giải phóng bước vào, các thành viên nội các đã ngồi quanh bàn. Ông Hạnh giới thiệu Tổng thống Dương Văn Minh, Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu…

Ông Minh nói tất cả đang chờ các vị chỉ huy Quân giải phóng vào bàn giao Chính phủ, ông Thệ nói dứt khoát: “Các ông đã bị bắt, không còn gì để bàn giao…”. Theo ông Nhu, quan điểm của phía Quân giải phóng là không có việc bàn giao, mà là chấm dứt sự tồn tại của chính quyền cũ.

Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nhanh chóng chấm dứt chiến sự trên toàn bộ các mặt trận, khi ở nhiều nơi, các đơn vị đối phương vẫn chưa nhận được thông tin đầu hàng. Vì thế, ông Thệ và ông Nhu đã thống nhất phương án đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu ra Đài Phát thanh để trực tiếp tuyên bố đầu hàng. “Chúng tôi nhận định, chỉ khi lời tuyên bố được phát đi trên sóng phát thanh, các đơn vị đối phương mới đồng loạt hạ vũ khí. Nếu chậm trễ, giao tranh có thể tiếp tục, gây thêm thương vong”, ông nói.

“Cụm từ “vô điều kiện” để khẳng định rõ tính chất của sự kiện” - ảnh 3
Ông Nguyễn Khắc Nhu và tấm ảnh quý luôn được ông tự hào, nâng niu như kỷ vật. Ảnh: THÙY TRANG

Nếu có chuyện gì xảy ra, mình sẽ là người hứng đạn trước

Việc áp giải Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu rời Dinh Độc Lập được thực hiện ngay sau đó. Tuy nhiên, đây là quyết định không có chỉ thị trực tiếp từ cấp trên, trong điều kiện liên lạc bị hạn chế do sóng điện đài bị che khuất bởi địa hình đô thị. “Chúng tôi tự ý đưa Tổng thống và Thủ tướng của họ rời khỏi Dinh. Nếu có chuyện gì xảy ra trên đường, như bị bắn tỉa, bị tấn công thì trách nhiệm rất lớn. Thậm chí, có thể bị xử lý rất nặng. Nhưng lúc đó, chúng tôi xác định mục tiêu ưu tiên là phải đảm bảo họ đến được Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng”, ông Nhu nói.

Chiếc xe Jeep chở đoàn áp giải rời Dinh Độc Lập trong bối cảnh đường phố Sài Gòn vẫn còn đầy bất ổn. Tàn binh, súng đạn, những tình huống khó lường có thể xảy ra bất cứ lúc nào. “Chúng tôi bố trí ông Dương Văn Minh ngồi giữa hàng ghế trước, hai bên là tài xế và ông Phạm Xuân Thệ. Ở phía sau, ông Vũ Văn Mẫu ngồi giữa tôi và một chiến sĩ thông tin. Lúc đó chúng tôi xác định, nếu có chuyện gì xảy ra, mình sẽ là người hứng đạn trước. Phải bảo vệ họ bằng mọi giá để họ có thể tuyên bố đầu hàng”, ông kể.

“Một chi tiết đáng chú ý là trong quá trình di chuyển, chính Dương Văn Minh là người chỉ đường đến Đài Phát thanh, do lực lượng Quân giải phóng không nắm rõ hệ thống giao thông nội đô”, ông Nhu nói. Khi đến Đài Phát thanh Sài Gòn, lực lượng Quân giải phóng đã kiểm soát được khu vực. Tuy nhiên, toàn bộ nhân viên kỹ thuật đã rời đi, khiến việc vận hành hệ thống phát thanh gặp khó khăn. Từ một cuốn sổ ghi địa chỉ nhân viên, tổ chỉ huy cử lực lượng đi tìm và mời các kỹ thuật viên quay lại làm việc.

Trong thời gian chờ đợi, các sĩ quan bắt đầu soạn thảo nội dung bản tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc trên sóng. Theo ông Nguyễn Khắc Nhu, bản thảo ban đầu đã nêu rõ nội dung kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí. Tuy nhiên, ông đề nghị bổ sung cụm từ “vô điều kiện”. Ông Nhu lý giải, việc sử dụng cụm từ này nhằm khẳng định rõ tính chất của sự kiện, tránh những cách hiểu khác nhau.

Ông kể, “ý tưởng ấy đến từ ký ức thời học sinh, khi xem những bộ phim về Hồng quân Liên Xô đánh bại phát xít Đức. Tôi nhớ rất rõ cụm từ “đầu hàng vô điều kiện”. Khi nghe bản thảo, tôi thấy cần phải thêm ba chữ đó để khẳng định rõ ràng hơn”. Ông đề nghị Dương Văn Minh bổ sung cụm từ này vào bản tuyên bố. Và đề nghị ấy được chấp nhận.

Quá trình thu âm cũng gặp sự cố khi thiết bị của đơn vị bị hỏng. Một phóng viên nước ngoài có mặt tại hiện trường đã cho mượn máy ghi âm để thực hiện. Sau khi hoàn tất thu âm và kiểm tra, bản tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh được phát đi trên sóng Đài Phát thanh Sài Gòn, chiến tranh thực sự khép lại.

Khoảng 15h30 cùng ngày, sau khi hoàn tất nhiệm vụ tại Đài Phát thanh, đoàn quay trở lại Dinh Độc Lập. Lúc này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã có mặt, tiếp quản tình hình. Đơn vị của ông Nhu sau đó rút ra ngoài khu vực Sài Gòn - Gia Định. Nhìn lại toàn bộ diễn biến, ông Nhu cho rằng các quyết định quan trọng trong ngày 30.4.1975 được đưa ra trong thời gian rất ngắn, nhưng có tác động lớn đến cục diện chung.

“Việc đưa Dương Văn Minh ra Đài phát thanh và tổ chức tuyên bố đầu hàng đã góp phần chấm dứt chiến sự nhanh hơn, hạn chế thương vong”, ông nói. Trong một chuyến đi Côn Đảo gần đây, ông được nghe một cựu tù kể lại rằng vào sáng 30.4.1975, phía đối phương đã có kế hoạch thủ tiêu tù chính trị trước khi rút. Tuy nhiên, khi nghe tin đầu hàng trên đài phát thanh, lực lượng canh giữ đã bỏ chạy. “Thông tin này giúp tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa của quyết định lúc đó”, ông nói.

Sau chiến tranh, tháng 10.1975, ông Nhu chuyển ngành, tham gia công tác xây dựng chính quyền tại một số địa phương, sau đó làm việc trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Đồng Nai cho đến khi nghỉ hưu. Hiện nay, ông là Trưởng ban Liên lạc CCB Trung đoàn 66 tại TP.HCM, thường xuyên tham gia các hoạt động giao lưu, nói chuyện truyền thống với học sinh, sinh viên.

Ở tuổi gần 80, ông Nguyễn Khắc Nhu vẫn giữ thói quen lưu giữ tài liệu, hình ảnh liên quan đến ngày 30.4.1975. Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng, những gì mình làm trong ngày 30.4 là nhiệm vụ của một người lính trong hoàn cảnh cụ thể. “Tôi không nghĩ đó là điều gì lớn lao. Nhưng được tham gia vào thời khắc kết thúc chiến tranh, góp phần vào quyết định quan trọng, thì đó là điều mà cả đời tôi ghi nhận”, ông nói.