Giáo dục văn hóa nghệ thuật cho giới trẻ:

Cần gắn đào tạo với thực tiễn

THÙY TRANG

VHO - Chuyển đổi số, AI và sự phát triển của công nghiệp văn hóa đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục văn hóa nghệ thuật cho giới trẻ, nhất là đào tạo nguồn nhân lực vừa vững chuyên môn, vừa có năng lực công nghệ, sáng tạo và thích ứng thị trường.

Cần gắn đào tạo với thực tiễn - ảnh 1
Sinh viên Trường Đại học Văn hóa TP.HCM biểu diễn nghệ thuật

Khoảng trống từ giảng đường đến thị trường

Nêu ý kiến tại Hội thảo khoa học “Giáo dục văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa”, do Trường Đại học Văn hóa TP.HCM phối hợp với Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Việt Nam tổ chức, PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM cho rằng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đặc biệt là trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi phương thức sáng tạo, sản xuất, phân phối và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa nghệ thuật.

“Giáo dục văn hóa nghệ thuật đang đứng trước cơ hội chuyển từ nơi chủ yếu truyền dạy và bảo tồn thành không gian sáng tạo, kết nối và kiến tạo giá trị mới. Chuyển đổi số mở rộng không gian ấy, công nghiệp văn hóa tạo thêm điều kiện để các giá trị văn hóa tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội, nhưng giáo dục và con người, nhất là người trẻ vẫn là nhân tố quyết định những giá trị nào được tiếp nối, sáng tạo và lan tỏa”, PGS Lâm Nhân nhấn mạnh.

Từ góc nhìn này, chương trình đào tạo cần được cập nhật theo những thay đổi của thực tiễn. Sinh viên cần có nhiều hơn cơ hội thực hành, tiếp xúc với môi trường nghề nghiệp và tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm văn hóa. Doanh nghiệp, bảo tàng, nghệ sĩ và các chủ thể văn hóa cũng cần được xem là những đối tác trực tiếp của cơ sở đào tạo, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu thực tập hoặc tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp.

Theo bà Lê Ngọc Hân, Công ty TNHH Cung ứng Cây Ô Liu, hiện vẫn tồn tại khoảng trống trong chuỗi liên kết này. “Phần lớn các cơ sở đào tạo nghệ thuật chưa thiết lập được mạng lưới hợp tác chiến lược dài hạn với các doanh nghiệp để cung cấp không gian thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp cho sinh viên. Trong khi đó, doanh nghiệp sáng tạo cũng gặp khó khăn khi tuyển dụng nhân sự chất lượng cao do một bộ phận sinh viên mới tốt nghiệp còn thiếu kỹ năng thực tế và khả năng thích ứng với thị trường. Sự thiếu kết nối khiến quá trình hình thành nguồn nhân lực sáng tạo chưa tạo được chuỗi liên tục từ đào tạo đến thị trường”, bà Hân nhận định.

Để khắc phục khoảng trống này, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ góp ý xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đặt hàng sáng tạo đến đánh giá năng lực nghề nghiệp. Đây cũng là cách để cơ sở đào tạo nhận diện sớm những yêu cầu mới của thị trường lao động và điều chỉnh nội dung giảng dạy.

Thực tế hợp tác giữa Trường Đại học Văn hóa TP.HCM và Bảo tàng Áo Dài cho thấy hiệu quả của việc gắn đào tạo với thực tiễn. Bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo Dài cho biết, sinh viên đến thực tập được tham gia trình diễn lịch sử áo dài, các hoạt động về di sản, đồng thời học nghề thắt lá dừa, may áo dài ngũ thân và kết nối với nghệ nhân. “Tôi nghĩ rằng việc liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp hoặc bảo tàng là kinh nghiệm để cùng tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị, mang tính đặc thù và khó có đơn vị nào thay thế được”, bà Vân chia sẻ.

Bắt đầu từ những giá trị Việt

Câu chuyện đào tạo nguồn nhân lực trẻ cho công nghiệp văn hóa cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc bảo tồn và phát huy di sản. TS Nguyễn Thị Trúc Bạch, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, lưu truyền và tiếp nhận văn hóa. Vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể cũng phải thích ứng với những môi trường thực hành mới.

Theo TS Nguyễn Thị Trúc Bạch, Nghị quyết số 80 xác định công nghiệp văn hóa là một trong những động lực quan trọng để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khẳng định bản sắc quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế. Theo tinh thần đó, bảo tồn và phát huy di sản không chỉ dừng ở lưu giữ mà cần được chuyển hóa thành nguồn lực sáng tạo, tham gia vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.

Với Cải lương Nam Bộ, yêu cầu này càng rõ khi loại hình nghệ thuật truyền thống đứng trước những thay đổi về công chúng, phương thức truyền nghề và môi trường tiếp nhận. Cải lương cần có khả năng hiện diện trong các không gian văn hóa số, đồng thời tìm được cách tiếp cận công chúng mới.

Một khoảng trống được đặt ra là sự thiếu hụt những mô hình đào tạo có khả năng kết nối giáo dục di sản với năng lực số và năng lực sáng tạo. Đây là những năng lực cần thiết để hình thành đội ngũ có thể đưa giá trị truyền thống vào những sản phẩm, hình thức tiếp cận phù hợp với đời sống đương đại mà vẫn bảo đảm bản sắc.

GS.TS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cho rằng, Việt Nam chưa thể cạnh tranh trực tiếp với những nền công nghiệp văn hóa lớn trên thế giới, vì vậy cần tìm hướng phát triển dựa trên những giá trị và nguồn lực riêng. Khi chúng ta chưa có Hollywood, chưa có K-pop thì trước hết phải bắt đầu từ những cái chúng ta có. Chúng ta phải tạo ra Hollywood của Việt Nam, K-pop của Việt Nam và chúng ta đang có thế mạnh, nguồn lực để thực hiện.

Theo GS Lê Hồng Lý, nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa là sự trải nghiệm và thẩm thấu văn hóa của mỗi cá nhân, đặc biệt thông qua giáo dục cho các bạn trẻ. Những câu ca dao, tục ngữ, dân ca và các loại hình nghệ thuật truyền thống được tiếp nhận từ nhỏ góp phần hình thành nhận thức và bản sắc văn hóa. Nếu thiếu nền tảng văn hóa, việc xây dựng đội ngũ làm công nghiệp văn hóa sẽ gặp nhiều hạn chế. Bởi vậy, đào tạo nguồn nhân lực không thể chỉ tập trung vào kỹ năng sản xuất sản phẩm hay khai thác thị trường mà cần bắt đầu từ hiểu biết, tình cảm và năng lực sáng tạo trên nền tảng văn hóa Việt Nam.

Bài toán giáo dục văn hóa nghệ thuật cho giới trẻ trước yêu cầu mới của công nghiệp văn hóa hiện nay không chỉ nằm ở việc bổ sung một số môn học hay kỹ năng công nghệ, điều quan trọng hơn là tạo được sự kết nối thực chất giữa nhà trường với đời sống sáng tạo, giữa tri thức văn hóa với công nghệ, giữa di sản với thị trường và giữa người học với môi trường nghề nghiệp.