Biến sức mạnh văn hoá thành động lực tăng trưởng mới
VHO - Khát vọng tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước yêu cầu phải tìm kiếm những động lực phát triển mới có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức, con người, sáng tạo. Trong hành trình ấy, văn hóa không chỉ tạo nên nền tảng tinh thần, hệ giá trị, niềm tin, lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết của xã hội, mà ngày càng có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành sản phẩm, việc làm, doanh thu, tài sản trí tuệ và sức cạnh tranh quốc gia. Vấn đề của giai đoạn mới là làm sao để sức mạnh văn hóa thực sự đi vào sức sản xuất của nền kinh tế.

Tăng trưởng nhanh càng cần một nền tảng văn hóa mạnh
Sáu tháng đầu năm 2026, GDP Việt Nam tăng 8,18% so với cùng kỳ. Kết quả ấy cho thấy nền kinh tế đang duy trì đà tăng tích cực, nhưng đồng thời cũng cho thấy để tiến tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải tạo thêm những động lực mới. Chúng ta khó có thể chỉ tiếp tục dựa vào vốn đầu tư, đất đai, lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên. Một nền kinh tế muốn đi nhanh hơn phải tạo ra năng suất cao hơn; muốn có năng suất cao hơn phải dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người. Chính ở điểm này, văn hóa hiện ra không phải như một lĩnh vực đứng bên cạnh kinh tế, mà như một phần của năng lực phát triển.
Khi nói tới đóng góp của văn hóa cho tăng trưởng, không thể chỉ hỏi văn hóa đóng góp bao nhiêu phần trăm GDP. Một xã hội coi trọng chữ tín sẽ giảm chi phí của sự nghi ngờ; một nền hành chính đề cao trách nhiệm sẽ giảm chi phí của trì trệ; một môi trường khuyến khích sáng tạo sẽ tạo thêm ý tưởng mới. Những yếu tố khó đo đếm ấy cuối cùng đều trở lại trong năng suất, hiệu quả quản trị và sức cạnh tranh.
Văn hóa trước hết tạo ra hệ giá trị để con người định hướng hành vi. Lao động, sáng tạo, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, thượng tôn pháp luật, tinh thần cống hiến và khát vọng vươn lên không phải những khái niệm trừu tượng. Khi được thẩm thấu vào đời sống, chúng trở thành một dạng “hạ tầng mềm” của phát triển. Doanh nghiệp coi trọng chất lượng sẽ tạo ra sản phẩm đáng tin cậy hơn. Cơ quan công quyền có văn hóa phục vụ sẽ tạo ra môi trường thuận lợi hơn. Xã hội tôn trọng tài năng và thành công chính đáng sẽ tạo thêm động lực cho người trẻ học tập, khởi nghiệp và sáng tạo.
Văn hóa còn tích tụ sức mạnh đoàn kết và lòng yêu nước. Trong phát triển hôm nay, lòng yêu nước có thể là làm ra sản phẩm Việt Nam có chất lượng, gìn giữ uy tín thương hiệu Việt, sáng tạo nội dung khiến thế giới hiểu hơn về Việt Nam, hay đơn giản là làm tốt nhất công việc của mình. Khi được nhân lên trong hàng triệu con người, tinh thần ấy trở thành nguồn lực phát triển.
Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13.7.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc”. Câu nói ấy gợi một cách nhìn rộng hơn về tăng trưởng. Một quốc gia không chỉ cần sức bật để đi nhanh, mà còn cần sức bền để không bị chệch hướng trước những biến động của thị trường, công nghệ và môi trường quốc tế. Sức bền ấy được tạo nên bởi bản sắc, niềm tin, hệ giá trị và khả năng tự điều chỉnh của xã hội.
Vì thế, mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể chỉ được hiểu như một phép cộng về vốn, đầu tư và sản lượng. Nó còn là câu chuyện của chất lượng con người, chất lượng thể chế, đạo đức kinh doanh, văn hóa công vụ, tinh thần hợp tác và niềm tin xã hội. Tăng trưởng càng nhanh, nhu cầu có một “la bàn văn hóa” càng lớn, bởi tốc độ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đưa đất nước đi đúng hướng và làm cho đời sống con người tốt đẹp hơn.
Khi vốn văn hóa trở thành sức sản xuất mới
Nếu ở tầng sâu, văn hóa tạo ra chất lượng của tăng trưởng, thì ở tầng trực tiếp hơn, văn hóa đang trở thành một khu vực kinh tế ngày càng lớn. Một bộ phim, trò chơi điện tử, bản thiết kế, chương trình biểu diễn, sản phẩm thủ công, lễ hội, tour di sản hay nội dung số đều có thể tạo ra chuỗi giá trị gồm sáng tạo, sản xuất, phân phối, bản quyền, quảng cáo, du lịch, thương mại điện tử và các dịch vụ đi kèm. Văn hóa không chỉ tạo cảm xúc; văn hóa còn tạo việc làm và giá trị gia tăng.
Theo UNCTAD, tại các quốc gia có dữ liệu, kinh tế sáng tạo đóng góp khoảng 0,5-7,3% GDP và sử dụng từ 0,5-12,5% lực lượng lao động. Năm 2024, công nghiệp sáng tạo của Vương quốc Anh tạo ra 145,8 tỉ bảng giá trị gia tăng, tương đương 5,5% GVA; khu vực này tăng 4,6%, trong khi toàn bộ nền kinh tế Anh tăng khoảng 1%. Sáng tạo đã trở thành một bộ phận thực sự của tăng trưởng.
Hàn Quốc đem lại một gợi mở khác. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, xuất khẩu ngành nội dung của nước này năm 2024 đạt khoảng 14,1 tỉ USD. Điều đáng chú ý hơn con số xuất khẩu trực tiếp là hiệu ứng lan tỏa: một bộ phim hay một nhóm nhạc có thể kéo theo du lịch, thời trang, mỹ phẩm, ẩm thực và nhu cầu học tiếng Hàn. Khi một sản phẩm văn hóa đi ra thế giới, nhiều sản phẩm khác đi cùng. Đó chính là sức mạnh của văn hóa khi được tổ chức thành một hệ sinh thái kinh tế.
Việt Nam có nhiều điều kiện để đi trên con đường ấy. Chúng ta có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể và một kho tàng vô cùng phong phú về lịch sử, tín ngưỡng, lễ hội, ẩm thực, thủ công, âm nhạc, mỹ thuật, trang phục, kiến trúc và tri thức dân gian. Chúng ta cũng có một thế hệ trẻ nhanh nhạy với công nghệ và xu hướng sáng tạo mới. Điều chúng ta thiếu không phải là câu chuyện để kể, mà là năng lực biến những câu chuyện ấy thành IP, sản phẩm, thương hiệu và thị trường.
Tiềm năng ấy đã bắt đầu được đánh thức. Các tour đêm tại Nhà tù Hỏa Lò hay Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho thấy di sản khi được kể bằng ánh sáng, công nghệ và thiết kế trải nghiệm có thể tạo thêm giá trị kinh tế. Các lễ hội sáng tạo, festival, chương trình nghệ thuật quy mô lớn và nội dung số cũng tạo dòng khách, kéo theo lưu trú, ăn uống, vận tải, bán lẻ; đóng góp của văn hóa vì thế vượt khỏi phạm vi của chính ngành văn hóa.
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và đến năm 2045 đạt 9%. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Điều đó đặt ra một yêu cầu rất cụ thể: từ những nguồn lực văn hóa hiện có, phải đo được sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, thị trường và những thương hiệu có khả năng đi ra quốc tế.
Điểm đặc biệt của công nghiệp văn hóa là đầu vào quan trọng nhất không phải một nguồn tài nguyên hữu hạn, mà là trí tưởng tượng, tài năng, tri thức, câu chuyện và công nghệ. Một mỏ khoáng sản khai thác càng nhiều càng cạn; một câu chuyện hay lại có thể được kể nhiều lần bằng phim, sách, trò chơi, hoạt hình, thiết kế, sân khấu, du lịch và sản phẩm lưu niệm, thậm chí giá trị còn tăng lên khi có thêm những cách kể mới. Đây là kiểu tăng trưởng phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng và giảm dần sự phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào truyền thống.
Từ tiềm năng văn hóa đến những giá trị có thể đo đếm
Tuy vậy, tiềm năng không tự động trở thành tăng trưởng. Khoảng cách từ một kho tàng văn hóa phong phú tới một nền công nghiệp văn hóa mạnh là khoảng cách của thể chế, thị trường, công nghệ, nhân lực và năng lực tổ chức sản xuất. Giai đoạn hiện nay vì thế cần được nhìn như giai đoạn chuyển từ “nhận thức về tiềm năng” sang “năng lực chuyển hóa”.
Trước hết là vấn đề đo lường. Khi chưa có một hệ thống thống kê đầy đủ, chúng ta khó biết chính xác lĩnh vực nào đang tạo giá trị, địa phương nào có lợi thế và chính sách nào thực sự hiệu quả. Việc xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê công nghiệp văn hóa và hệ thống dữ liệu văn hóa vì thế không chỉ phục vụ thống kê, mà còn giúp văn hóa bước vào quá trình hoạch định phát triển bằng những con số rõ ràng.

Tiếp đó là khả năng biến di sản thành tài sản trí tuệ. Số hóa di sản không nên chỉ dừng ở việc tạo ra kho lưu trữ. Dữ liệu văn hóa phải có khả năng trở thành nguyên liệu cho giáo dục, điện ảnh, thiết kế, trò chơi, du lịch, trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm sáng tạo khác. Một họa tiết cổ, một câu chuyện lịch sử, một làn điệu dân gian hay một kỹ thuật thủ công hoàn toàn có thể bước vào đời sống đương đại bằng những hình thức mới nếu có bản quyền rõ ràng, người sáng tạo giỏi và doanh nghiệp biết tổ chức thị trường.
Một vấn đề khác là quy mô doanh nghiệp. Muốn công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, không thể chỉ dựa vào những dự án nhỏ, ngắn hạn và phân tán. Cần có chuỗi giá trị đủ dài, doanh nghiệp có khả năng đầu tư cho sản xuất lớn, những IP Việt Nam có thể sống nhiều năm trên nhiều nền tảng và các thương hiệu sáng tạo có sức cạnh tranh khu vực. Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xây dựng cũng xuất phát từ yêu cầu tạo một hành lang pháp lý đồng bộ hơn cho hoạt động sáng tạo, đầu tư, thương mại hóa và bảo vệ tài sản trí tuệ.
Mỗi địa phương cũng cần nhận diện đúng tài sản văn hóa có khả năng tạo khác biệt, thay vì phát triển dàn trải. Hà Nội có lợi thế về di sản đô thị, thiết kế, thủ công và nội dung số; Huế có di sản cung đình, lễ hội, ẩm thực; TP.HCM có thị trường, công nghệ, điện ảnh và hệ sinh thái doanh nghiệp sáng tạo. Những sản phẩm đặc trưng, khi được liên kết, có thể tạo thêm các cực tăng trưởng mới.
Nhưng cuối cùng, con người vẫn là yếu tố quyết định. Không có công nghiệp văn hóa mạnh nếu thiếu nhà sáng tạo, nhà sản xuất, người làm công nghệ, chuyên gia bản quyền, marketing, quản trị và kinh doanh văn hóa. Cũng không thể có nền kinh tế sáng tạo nếu xã hội không trân trọng tài năng, không chấp nhận thử nghiệm và không tạo không gian cho những ý tưởng khác biệt. Đầu tư cho văn hóa, xét đến cùng, vẫn là đầu tư cho năng lực sáng tạo của con người Việt Nam.
Tăng trưởng hai con số trước hết là một mục tiêu kinh tế, nhưng để mục tiêu ấy bền vững, đất nước cần nhiều hơn những con số đầu tư hay những công trình hạ tầng. Chúng ta cần niềm tin để cùng hành động, hệ giá trị để định hướng hành động, lòng yêu nước để nuôi dưỡng khát vọng, tinh thần đoàn kết để cộng hưởng các nguồn lực, và sáng tạo để biến bản sắc thành giá trị mới.
Khi một người trẻ từ niềm tự hào văn hóa tạo ra sản phẩm được thị trường quốc tế đón nhận, đó là lúc tinh thần trở thành vật chất. Khi di sản tạo thêm việc làm và sinh kế cho cộng đồng, ký ức trở thành nguồn lực phát triển. Khi phim, trò chơi, thiết kế hay lễ hội đưa hình ảnh Việt Nam đi xa hơn, văn hóa trở thành sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh.
Đặt văn hóa vào bài toán tăng trưởng hai con số không có nghĩa là quy tất cả giá trị văn hóa thành tiền. Điều cần thiết hơn là nhìn đầy đủ những nguồn lực đang làm nên sức mạnh của một quốc gia. Khi nền tảng tinh thần và năng lực sáng tạo cùng được khơi dậy, văn hóa có thể vừa góp phần giúp đất nước đi nhanh hơn, vừa giúp chúng ta biết mình đang đi về đâu.

RSS
