Bảo tồn Phật viện Đồng Dương trong không gian di sản sống
VHO - Phật viện Đồng Dương cần một chiến lược bảo tồn đủ rộng để bảo vệ cảnh quan khảo cổ và đủ cụ thể để cứu những dấu tích đang xuống cấp. Trong chiến lược ấy, sự tham gia của cư dân và cách diễn giải trung thực về quá khứ sẽ quyết định sức sống lâu dài của di sản.

Việc hoàn nguyên hai pháp khí đóa sen và con ốc cho tượng Bồ tát Tara vào tháng 11.2025 sau khi hai hiện vật được chuyển giao về Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng gợi một suy nghĩ cho Đồng Dương: mỗi phần di sản trở về đúng mối liên hệ của nó đều giúp chúng ta hiểu thêm một chỉnh thể đã bị chia cắt.
Hội thảo khoa học quốc gia về Phật viện Đồng Dương diễn ra vào giữa tháng 5.2026 tiếp tục đặt ra yêu cầu nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên cơ sở khoa học. Hướng hợp tác bảo tồn với Ấn Độ cũng mở thêm khả năng huy động chuyên môn. Trước cơ hội này, Đồng Dương cần một chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị toàn diện, thay vì những giải pháp chắp vá ngắn hạn.
Đặt phế tích trong cảnh quan rộng hơn
Kiến trúc sư, Nhà nghiên cứu Lê Trí Công đề xuất mô hình Công viên Khảo cổ quốc gia Đồng Dương với ba vùng: lõi bảo vệ khoảng 12ha, hành lang kết nối các di tích vệ tinh và vùng đệm sinh thái khoảng 500ha. Quy mô 500ha thuộc đề xuất vùng đệm; việc xác lập ranh giới cụ thể cần tiếp tục dựa vào khảo sát và hồ sơ quy hoạch.

Cách tiếp cận này đặt Phật viện trong quan hệ với các gò di tích, đường tiếp cận và mạng lưới nước. Theo đề xuất, vùng đệm cần tính đến sông Ly Ly, núi Trà Cai cùng hệ thống suối quanh Đồng Dương. Đó là tầm nhìn quản lý một cảnh quan rộng, trong đó mỗi khu vực có yêu cầu bảo vệ và sử dụng khác nhau, không đồng nghĩa toàn bộ diện tích đều phải giải tỏa hoặc cấm mọi hoạt động của cư dân.
Đồng thời đặt vấn đề về sự tiếp biến không gian tại Đồng Dương, đặc biệt là cách trục tiếp cận và các lớp kiến trúc tổ chức hành trình vào trung tâm thiêng. Cách đọc này gợi một yêu cầu thiết thực: bảo tồn phải giữ được khả năng nhận biết quan hệ giữa cổng, sân, đền thờ và cảnh quan.
Các diễn giải về nguồn gốc Hindu giáo, maṇḍala bảo hộ hay ý nghĩa vương quyền cần tiếp tục được kiểm chứng qua đối chiếu kiến trúc, khảo cổ và văn khắc.
Tuyến tham quan, đường dịch vụ và công trình phụ trợ vì thế phải được thiết kế trên cơ sở khảo sát tổng thể. Một đường cắt ngang thuận tiện cho vận hành có thể làm mất khả năng đọc không gian lịch sử. Những vùng đất chưa khai quật cũng cần được bảo vệ để các thế hệ sau còn cơ hội bổ sung hoặc điều chỉnh cách hiểu hôm nay.
Cứu tháp Sáng bằng hiểu biết về chính công trình
Theo KTS. Lê Trí Công, ưu tiên trước mắt là đánh giá an toàn và ổn định phần kiến trúc còn lại của Tháp Sáng. Hồ sơ bảo tồn cần ghi nhận biến dạng, vết nứt, tình trạng nền móng và hệ chống đỡ; đồng thời theo dõi nước mưa, độ ẩm, hiện tượng bong tróc và tác động của thực vật.
Việc cứu nguy cần thiết phải được triển khai kịp thời, song mỗi can thiệp đều cần có hồ sơ để kiểm tra hiệu quả về sau.

Nguy cơ kết tinh muối là một nội dung phải khảo sát. Trong vật liệu rỗng, nước có thể vận chuyển muối hòa tan; khi điều kiện ẩm thay đổi, quá trình kết tinh có thể gây tổn thương. Nhưng mức độ rỗng, tốc độ hút nước, khả năng khô và hàm lượng muối của gạch Đồng Dương phải được xác định bằng mẫu và phép đo phù hợp. Không thể lấy một mô tả chung về gạch Champa làm chẩn đoán riêng cho Tháp Sáng.
Dầu rái, bời lời hay kỹ thuật xây mài chập là những hướng nghiên cứu đáng quan tâm, cần đối chiếu với dấu vết vật liệu và kỹ thuật tại di tích. Việc lựa chọn chất kết dính, gạch bổ sung hoặc giải pháp gia cố phải qua thử nghiệm tương thích. Tiêu chí quyết định là tác động lên khối xây cổ, khả năng theo dõi và bảo trì, chứ không chỉ nguồn gốc truyền thống hay hiện đại của vật liệu.
Bảo tồn phế tích cũng cần phân biệt việc gia cố và lắp lại cấu kiện gốc có đủ căn cứ với việc dựng mới một hình dáng còn nhiều suy đoán. Phần bổ sung cần thiết phải hạn chế, nhận biết được và được lập hồ sơ. Khả năng tháo bỏ nên được ưu tiên khi khả thi; với xử lý không thể đảo ngược hoàn toàn, phải đánh giá tác động lâu dài và tránh cản trở những lần bảo tồn tiếp theo.

Quét laser và chụp ảnh đo đạc có thể ghi nhận hiện trạng, hỗ trợ theo dõi biến đổi và liên kết cấu kiện với hồ sơ khảo cổ. Trên nền dữ liệu ấy, mô hình số và thực tế tăng cường giúp người xem hình dung kiến trúc đã mất. Mỗi phần tái hiện cần cho biết căn cứ của nó: còn dấu tích tại chỗ, được ghi trong tư liệu cũ hay mới là giả thuyết đối chiếu.
Khi tồn tại nhiều cách giải thích, mô hình số có thể cho phép người xem chuyển giữa các phương án. Cách làm này đặc biệt hữu ích đối với những vấn đề còn đang nghiên cứu như hình thái mái, chức năng từng khu và vị trí các tượng thờ.

Các thiết bị diễn giải, kể cả trình chiếu ánh sáng, vẫn cần đánh giá vị trí lắp đặt, cấp điện và tác động của hoạt động tham quan. Công trình phụ trợ nên nằm tại nơi ít nhạy cảm, có quy mô phù hợp và kết cấu dễ tháo dỡ. Gỗ hay tre cũng cần điểm tựa, neo giữ và đường thi công; thiết kế nhẹ chỉ có ý nghĩa bảo tồn khi những tác động xuống nền đất đã được kiểm soát.
Bảo vệ di tích cùng quyền lợi của cư dân
Đất ở, đất sản xuất và ký ức gia đình của cư dân hiện diện ngay trong không gian khảo cổ. Quy hoạch vì thế cần xác định rõ khu vực phải bảo vệ nghiêm ngặt, khu vực có thể duy trì sinh hoạt và nơi phù hợp để bố trí dịch vụ. Phân vùng phải theo phân bố di tích và điều kiện thực địa, không áp đặt những vòng đồng tâm lên một cảnh quan phức tạp.
Với từng hộ bị ảnh hưởng, cần làm rõ hạn chế sử dụng đất, phương án hỗ trợ và cơ hội sinh kế. Ưu tiên hạn chế di dời; trường hợp thật sự cần thiết phải có phương án phù hợp với quyền lợi hợp pháp và điều kiện sống của người dân. Cam kết hưởng lợi từ du lịch trong tương lai không thể thay thế những nghĩa vụ phải thực hiện ngay khi quyền sử dụng đất hoặc sinh kế bị tác động.

Hai công cụ được KTS. Lê Trí Công gợi mở là chuyển quyền phát triển (TDR), và mô hình quản lý đất vì lợi ích cộng đồng (Quỹ đất Di sản Cộng đồng-CLT). Đây là những hướng đáng nghiên cứu, nhưng cần làm rõ điều kiện áp dụng.
TDR đòi hỏi cơ chế xác lập và giao dịch quyền phát triển, nơi tiếp nhận phù hợp với hạ tầng và cách giám sát lợi ích bảo tồn. Không nên mặc định cơ chế này sẽ tự bù đủ chi phí hoặc loại bỏ áp lực xây dựng.
Với mô hình CLT, trọng tâm là cơ chế quản lý đất phục vụ lợi ích cộng đồng lâu dài. Khi tham khảo cho Đồng Dương, cần xác định rõ tổ chức quản lý, quyền của các bên và cách bảo đảm mục tiêu chung ấy. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mọi phương án liên quan quyền sử dụng đất đều phải được rà soát pháp lý trước khi triển khai.

Một việc có thể chuẩn bị sớm là cơ chế để cư dân tham gia quản lý dịch vụ, nhận thù lao bảo vệ và giám sát nguồn thu chi dành cho bảo tồn. Việc thành lập tổ chức cộng đồng hay hợp tác xã cần được xem xét theo nhu cầu thực tế và quy định liên quan. Quyền tham gia của người dân phải thể hiện ở thông tin họ được tiếp cận, quyết định họ được góp ý và lợi ích họ thực sự nhận được.
KTS. Lê Trí Công dẫn chứng, câu chuyện hoàn nguyên hai pháp khí của tượng Tara cho thấy vai trò của người dân trong hành trình bảo vệ hiện vật, đồng thời nhắc đến những vướng mắc từng tồn tại giữa cộng đồng và cơ quan quản lý.
Ghi nhận đầy đủ lịch sử ấy giúp xây dựng sự tin cậy. Những ký ức về vị trí phát hiện, đường đi, mặt nước hay công trình đã mất cần được ghi chép với sự đồng thuận của người kể và đối chiếu với các nguồn khác.
Khảo cổ học có sự tham gia của cộng đồng có thể bắt đầu từ những công việc cụ thể: hỗ trợ ghi nhận hiện trạng, báo tin về nguy cơ xâm hại, hướng dẫn khách và tham gia hoạt động giáo dục di sản. Người được đào tạo có thể đảm nhận nhiệm vụ kỹ thuật phù hợp dưới sự hướng dẫn chuyên môn.
Việc khai quật, xử lý hóa chất hoặc can thiệp trực tiếp vào hiện vật vẫn cần người có năng lực và trách nhiệm rõ ràng.


Định hướng du lịch chậm phù hợp với mong muốn tạo một không gian học hỏi và chiêm nghiệm. Tuyến đi cần tránh nền móng yếu, có khoảng lùi an toàn và phân bố điểm dừng hợp lý; số khách nên được điều chỉnh theo sức chịu tải thực tế. Nếu diễn giải nghi thức đi nhiễu thuận chiều kim đồng hồ, cần nói rõ cơ sở tôn giáo và mức độ chứng cứ tại Đồng Dương.
Lộ trình bảo tồn nên bắt đầu bằng cứu nguy và lập hồ sơ, tiếp đến là khảo sát xác định phạm vi, thử nghiệm giải pháp rồi mới mở rộng hoạt động tham quan. Mỗi bước cần có kinh phí vận hành và kết quả đo được: dấu tích ổn định hơn, dữ liệu đầy đủ hơn, cư dân tham gia thực chất hơn.
Đồng Dương có thể trở thành một không gian di sản sống khi những phần còn lại được gìn giữ, những điều chưa biết được tiếp tục nghiên cứu và người dân có điều kiện gắn bó lâu dài với nơi mình đang sống.
Một mô hình di sản sống
Những đề xuất gợi mở về cách tiếp cận mô hình quy hoạch tổng thể cho Đồng Dương cũng chính là một trong những vấn đề trọng tâm được thảo luận khá sôi nổi tại hội thảo khoa học “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Phật viện Đồng Dương” tổ chức tại thành phố Đà Nẵng vào giữa tháng 5 vừa qua.

Tại hội thảo nói trên, nhiều ý kiến của các chuyên gia cũng cho rằng cấp thiết xây dựng quy hoạch tổng thể, lâu dài cho Đồng Dương.
Đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần đặt lại cách tiếp cận khi xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch, cần xác định được không gian và định hướng quy hoạch tổng thể; những giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số… trong phục dựng, tái hiện Phật viện Đồng Dương để bảo tồn, phát huy di sản văn hóa đặc sắc này trong môi trường số.

Sự hồi sinh của Phật viện Đồng Dương không nằm ở việc cố gắng dựng lại một công trình đồ sộ đã mất, mà là quá trình chữa lành những đứt gãy về vật chất và xã hội.
Bằng cách hạn chế sự can thiệp "thô bạo" của vật liệu hiện đại, bảo tồn dựa vào những tri thức trên nền tảng khoa học vật liệu cổ đại và công nghệ di sản số, dùng kinh tế không gian để hóa giải mâu thuẫn sinh kế, và dùng công nghệ số để đánh thức các tầng bậc lịch sử mà không cần chạm vào quá khứ, ba nhóm biện pháp như KTS. Lê Trí Công đề xuất cùng hội tụ về một đích đến chung: Một mô hình “Di sản sống đích thực”.
“Chỉ khi nào từng tảng gạch xốp nhẹ, từng dải đất canh tác và hơi thở của cộng đồng bản địa cùng hòa quyện trong một chiến lược bảo tồn đa ngành, phế tích Đồng Dương mới thực sự bừng sáng trở lại, tiếp tục ngân vang âm thanh của sự sống và Chánh pháp, như tiếng ốc thiêng trên tay Bồ tát Tara từ ngàn xưa vọng về”, KTS. Lê Trí Công chia sẻ.

RSS