Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật:

Bài cuối - Thượng tôn pháp luật từ ý thức tự giác

HOÀNG HƯƠNG

VHO - Để pháp luật thực sự đi vào đời sống và trở thành chuẩn mực ứng xử tự giác, việc xây dựng và thi hành pháp luật phải gắn chặt với thực tiễn xã hội và đời sống văn hóa của người dân. Theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật không dừng ở việc hoàn thiện thể chế, mà còn hướng tới hình thành ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong mỗi cá nhân, để sự tuân thủ xuất phát từ nhận thức, trách nhiệm và nhu cầu tự thân của một xã hội văn minh, hiện đại.

Bài cuối - Thượng tôn pháp luật từ ý thức tự giác - ảnh 1
Ý thức tuân thủ Luật Giao thông là một phần quan trọng của văn hóa pháp quyền trong đời sống đô thị. Ảnh minh họa

 “Đứng trên mảnh đất thực tiễn” để kiến tạo luật pháp

Nhìn từ thực trạng hàng triệu quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành mỗi năm, hàng loạt vụ án kinh tế, tham nhũng lớn liên quan đến người có chức vụ, quyền hạn bị phanh phui, cùng tâm lý “bình thường hóa cái sai” len lỏi trong đời sống thường nhật, có thể thấy rào cản lớn đối với sự phát triển không chỉ nằm ở mức độ nặng nhẹ của chế tài, mà ở chỗ pháp luật chưa thực sự được chuyển hóa thành hệ giá trị văn hóa nội tâm. Khi sự tuân thủ chủ yếu xuất phát từ áp lực cưỡng chế bên ngoài thay vì ý thức tự giác bên trong, hệ thống quản trị xã hội sẽ phải gánh những chi phí vô hình rất lớn, làm hao mòn nguồn lực và suy giảm niềm tin công chúng.

Tuy nhiên, nếu chỉ đổ lỗi cho ý thức người dân hay sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, thì mới chỉ nhìn thấy phần ngọn của vấn đề. Một xã hội chỉ có thể hình thành thói quen thượng tôn pháp luật khi bản thân hệ thống pháp luật thực sự ưu việt, công bằng và mang tính kiến tạo. Đây cũng là điểm nghẽn mà Nghị quyết số 66-NQ/TW chỉ ra và yêu cầu phải tháo gỡ triệt để.

Điểm nghẽn ấy nằm ở việc một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ; tư duy xây dựng pháp luật trong một số lĩnh vực còn nặng về quản lý; chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu rõ ràng, gây khó khăn cho thực thi, chưa tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và khơi thông nguồn lực đầu tư. Việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh, thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà.

Thực tế công tác xây dựng pháp luật từ báo cáo của Bộ Tư pháp cho thấy, chỉ riêng năm 2024, qua kiểm tra 11.928 văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chức năng đã phát hiện 376 văn bản có “vấn đề”. Trong đó có 340 văn bản trái pháp luật về nội dung và thẩm quyền, cùng 36 văn bản không phải quy phạm pháp luật nhưng lại chứa quy phạm pháp luật. Trong 6 tháng đầu năm 2025, Bộ Tư pháp tiếp nhận, phân loại kiểm tra 1.177 văn bản, gồm 100 văn bản của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và 1.077 văn bản của HĐND, UBND cấp tỉnh. Qua rà soát, Bộ Tư pháp đã kiến nghị xử lý 3 văn bản của cơ quan cấp Bộ có quy định trái pháp luật.

Chính vì vậy, Nghị quyết số 66-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, bảo đảm tính hệ thống, mở đường và khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Mục tiêu là đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Các quy định pháp luật phải bảo đảm tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đồng thời, cần phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp và các quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Khi hệ thống pháp luật phản chiếu đúng thực tiễn khách quan, minh bạch và khả thi, tự thân nó sẽ mang sức mạnh thuyết phục. Lúc ấy, người dân tuân thủ pháp luật không phải vì sợ chế tài, mà bởi họ nhận thấy pháp luật đang thực sự bảo vệ quyền lợi chính đáng và tạo điều kiện thuận lợi cho chính cuộc sống của mình.

Xây dựng văn hóa thượng tôn Hiến pháp và pháp luật

Muốn pháp luật thực sự đi vào đời sống, bên cạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật với các quy định ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, thì quá trình thực thi cũng phải gắn với việc phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp và các quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, và sâu xa hơn, là sự kết tinh của những giá trị chung mà cộng đồng cùng lựa chọn gìn giữ như công bằng, trật tự, trách nhiệm, nhân phẩm, quyền con người và lợi ích chung. Vì vậy, tuân thủ pháp luật không nên hiểu đơn thuần là “sợ bị xử phạt”, mà phải trở thành một phẩm chất văn hóa, biểu hiện của con người có lòng tự trọng, có trách nhiệm và biết sống vì cộng đồng.

Một xã hội văn minh không thể vận hành bền vững nếu chỉ dựa vào chế tài và xử phạt. Khi mọi hành vi đúng đắn đều phải chờ camera, biên bản xử phạt hay mệnh lệnh hành chính thì nền văn hóa pháp quyền ấy vẫn chưa thực sự bền vững. Điều quan trọng hơn là mỗi người tự ý thức: “Không vượt đèn đỏ”, “không xả rác”, “không chen lấn”, “không gian dối”, “không xâm phạm quyền lợi của người khác”..., không phải vì bị giám sát mà vì hiểu rằng đó là những hành vi không đúng, không đẹp và không xứng với phẩm giá của mình.

Để pháp luật đi vào đời sống không bằng những mệnh lệnh khô cứng mà bằng sự đồng thuận văn hóa, pháp luật cần được chuyển hóa thành những chuẩn mực ứng xử cụ thể: Trong gia đình là bình đẳng, không bạo lực; trong cộng đồng là tôn trọng không gian chung; trong kinh doanh là trung thực; trong lễ hội là văn minh; trên mạng xã hội là chuẩn mực và tỉnh táo trong phát ngôn, hành vi...

Ở chiều sâu văn hóa, pháp luật chính là ranh giới bảo vệ tự do của mỗi người. Khi tôn trọng pháp luật, mỗi người cũng đang tôn trọng quyền được sống an toàn, bình đẳng và tử tế của người khác. Một xã hội chỉ thực sự phát triển khi sự tuân thủ không dừng ở hành vi bên ngoài mà thấm sâu vào nhận thức, trở thành nếp nghĩ, nếp sống và phản xạ văn hóa.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Nghị quyết số 66-NQ/TW cũng đặt yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật như một đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật cũng chính là xây dựng con người, làm cho pháp luật không còn xa lạ hay áp đặt từ bên ngoài, mà trở thành chuẩn mực ứng xử tự nhiên trong đời sống hằng ngày.

Nghị quyết nhấn mạnh, trong bối cảnh thế giới đang thay đổi sâu sắc, để đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới, cùng với cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải được đổi mới căn bản, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Văn hóa tuân thủ pháp luật không thể hình thành trong ngày một ngày hai. Đó là quá trình bền bỉ làm cho cái đúng trở thành thói quen, cái đẹp trở thành nhu cầu, cái tốt trở thành chuẩn mực và pháp luật trở thành một phần tự nhiên của đời sống. Khi làm được điều đó, chúng ta không chỉ có một xã hội được quản lý hiệu quả hơn mà còn có một xã hội văn minh, nhân văn và phát triển bền vững hơn. 

 Tuân thủ pháp luật phải trở thành phản xạ văn hóa

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - một xã hội văn minh không thể chỉ dựa vào hệ thống chế tài hay các biện pháp xử phạt hành chính. Điều quan trọng hơn là mỗi người tự ý thức được rằng không vượt đèn đỏ, không xả rác, không chen lấn, không gian dối hay xâm phạm quyền lợi của người khác không phải vì sợ bị xử phạt, mà vì hiểu đó là những hành vi không đúng, không đẹp và không phù hợp với phẩm giá của mình.

“Khi sự tuân thủ không dừng ở hành vi bên ngoài mà trở thành nếp nghĩ, nếp sống và phản xạ văn hóa, xã hội mới có thể phát triển bền vững”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.