Kỷ niệm 72 năm Ngày giải phóng Thủ đô (10.10.1954 - 10.10.2026):
Một bài thơ hiếm hoi về Hà Nội của thi sĩ Phạm Thiên Thư
VHO - LTS: Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10.10.1954 - 10.10.2026), Văn Hóa trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Đỗ Anh Vũ về một thi phẩm ít được biết đến của thi sĩ Phạm Thiên Thư, người dành phần lớn cuộc đời sống và sáng tác ở phương Nam nhưng vẫn mang trong mình những ký ức và tình cảm sâu nặng với Hà Nội. Ở “Mùa xuân qua cầu Thê Húc”, một Hà Nội cổ kính, thanh bình, giàu chiều sâu văn hóa hiện lên trong những vần thơ tài hoa, góp thêm một tiếng lòng đẹp về Thủ đô trong dịp kỷ niệm đầy ý nghĩa này.
Phạm Thiên Thư (1.1.1940 - 7.5.2026) là gương mặt độc đáo của văn nghệ miền Nam trước 1975. Ông là người gốc Bắc nhưng di cư vào Nam từ 1954 nên toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông đều hình thành trong miền Nam.

Gia tài thơ của Phạm Thiên Thư để lại hàng nghìn bài, trong đó, một số bài thơ của ông được Phạm Duy phổ nhạc khẳng định được sức sống mãnh liệt, nằm trong trí nhớ nhiều thế hệ công chúng yêu văn nghệ. Hai ca khúc nổi tiếng nhất mà Phạm Duy phổ từ thơ ông là Đưa em tìm động hoa vàng (phổ từ bài thơ Động hoa vàng) và Ngày xưa Hoàng Thị (phổ từ bài thơ cùng tên).
Thơ Phạm Thiên Thư thanh cao, thoát tục, thấm đẫm bầu không khí của Phật giáo có lẽ bởi chính ông cũng từng là một tu sĩ. Về mặt thể loại, hai hình thức thơ được Phạm Thiên Thư ưa chuộng nhất là thể lục bát và thể bốn chữ. Điều thú vị ở chỗ, thơ Phạm Thiên Thư ít khi có những địa danh cụ thể mà phần lớn mang tính biểu tượng, hiện diện cùng những vùng không gian quen thuộc trong đời sống con người.
Theo những gì chúng tôi đọc được, cũng chưa thấy một tài liệu nào nói về những chuyến đi xa của thi sĩ, cả đời ông chỉ quanh quẩn ở miền Nam và những vùng lân cận. Thế nhưng, Phạm Thiên Thư lại có một bài lục bát rất hay về Hà Nội. Bài thơ này không có trong những tuyển tập thơ phổ biến của ông, cũng không có trên trang mạng lưu trữ tác phẩm của Phạm Thiên Thư. Toàn văn bài thơ có tên Mùa xuân qua cầu Thê Húc như sau:
“Con chim lại hót bên hồ
Tha mùa xuân lại thủ đô thả hồng
Cành đào đền cổ đơm bông
Ngọc Sơn hồn của núi sông nghìn đời.
Sóng hồ lãng đãng mù khơi
Ai đem Tháp Bút lên trời vẽ mây
Mống cầu ai trước qua đây
Nguyễn Du hẳn đến chốn này tìm thơ.
Dấu tay còn đến bây giờ
Vịn lên ngó sóng tình cờ gặp nhau
Rùa nào cõng tím biển dâu
Ngậm thiên kiếm lặn có đâu nỗi gì.
Đoạn cầu ai đã qua đi
Người sau bước lại đôi khi chợt buồn
Nắng xuân theo sợi mưa tuôn
Hạt biêng biếc rụng bên đường cỏ xanh.
Chân ta quanh quẩn độc hành
Biết đâu bước dậy Long thành từng xưa
Tiếng chim rơi giữa bụi mưa
Lại bay theo tiếng chuông chùa qua đây.
Tháp Rùa còn viết lên mây
Mặc cho khói sóng vơi đầy dưới chân”…
Căn cứ vào ngôn ngữ, giọng điệu tác phẩm, có thể đoán định bài thơ được viết sau ngày đất nước thống nhất, tức sau tháng 4.1975 bởi toàn bài thơ không còn vết dấu của bom đạn chiến tranh mà là một không khí hiền hòa, bình yên. Bom đạn đã dứt thì con chim mới có thể hót bên hồ, cành đào mới đơm bông, bức tranh thiên nhiên mới có những chấm phá rất đặc sắc như: Nắng xuân theo sợi mưa tuôn/ Hạt biêng biếc rụng bên đường cỏ xanh.

Có những câu thơ rất tài hoa, thấm đẫm Phật tính, đúng phong cách quen thuộc của Phạm Thiên Thư: Tiếng chim rơi giữa bụi mưa/ Lại bay theo tiếng chuông chùa qua đây. Nhưng cũng chính ở bài thơ, chúng ta gặp nỗi u hoài man mác của tác giả khi chiêm ngẫm về những lẽ đổi thay dâu bể.
Nhớ cảnh cũ, nhớ người xưa, phảng phất nỗi niềm của Bà huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Giờ đây Phạm Thiên Thư viết: Đoạn cầu ai đã qua đi/ Người sau bước lại đôi khi chợt buồn. Bản thân sự chuyển động của tiếng chim cũng hé lộ cho ta thấy những nỗi niềm sâu kín được ẩn giấu của tác giả. Tiếng chim không nằm trong một chuyển động nhất quán mà vừa rơi lại vừa bay, tức là lúc đậm lúc nhạt, lúc nhanh lúc chậm, lúc lên cao lúc xuống thấp, cũng như lòng người ngổn ngang trăm mối, khi nổi khi chìm.
Những địa danh, nhân vật mang dấu ấn văn hóa xuất hiện khá nhiều trong thi phẩm. Đó là Thê Húc, Ngọc Sơn, Tháp Bút, Nguyễn Du, Long thành, Tháp Rùa. Niềm tự hào về những giá trị truyền thống của dân tộc là một mạch ngầm xuyên chảy trong tác phẩm. Cùng với niềm tự hào ấy là sức sống bất diệt của đất và người dẫu trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Thế nên cả Tháp Bút và Tháp Rùa đều trở thành những biểu tượng cho một dân tộc trọng văn, trọng chữ, mang đậm dấu ấn nghệ sĩ. Trong bài thơ của Phạm Thiên Thư, Tháp Bút vẽ mây còn Tháp Rùa thì viết lên mây, đó đều là những thể hiện của sáng tạo và trường tồn.
Có thể, Phạm Thiên Thư đã viết bài thơ trong một lần ra Hà Nội. Cũng có thể ông viết bằng một chuyến đi trong tâm tưởng, viết như một ký ức, một giấc mơ bởi Phạm Thiên Thư cũng đã có 14 năm đầu đời lớn lên trên đất Bắc. Mùa xuân qua cầu Thê Húc mang trong nó ước mơ về một sự đoàn tụ, một sự trở lại sum vầy và cao hơn hết là một tình yêu thiết tha sâu lắng với quê hương xứ sở.
Không rõ bằng con đường nào, bài thơ đã được gửi đến Ban Văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam cách đây nhiều năm và được lựa chọn dàn dựng, thu âm qua giọng ngâm của NSND Vũ Kim Dung. Đây cũng là bài thơ duy nhất của Phạm Thiên Thư được lưu trữ trong kho băng của Đài và chúng tôi đã chép lại bài thơ khi nghe băng lưu trữ nghệ sĩ Vũ Kim Dung trình bày tác phẩm.

RSS