Trần cho vay lên 95%: Khoảng cách từ dư địa ngân hàng đến hồ sơ được duyệt

NGỌC NGUYỄN

VHO - Ngân hàng có thể có thêm dư địa cho vay khi chuyển sang cơ chế quản lý thanh khoản mới. Nhưng con số 95% không phải tỷ lệ khách hàng được vay, cũng không đồng nghĩa mọi ngân hàng lập tức nới điều kiện hoặc giảm lãi suất.

Trần cho vay lên 95%: Khoảng cách từ dư địa ngân hàng đến hồ sơ được duyệt - ảnh 1
Ảnh minh họa: AI

Một chủ cửa hàng cần vốn nhập hàng, một gia đình đang tính khoản vay mua nhà có thể cùng chú ý trước thông tin ngân hàng được nâng tỷ lệ cho vay lên 95%. Câu hỏi thiết thực của họ là hồ sơ sắp tới có dễ được chấp thuận hơn hay không.

Muốn trả lời, trước hết phải hiểu đúng con số đang được nói tới.

Thông tư 50/2026/TT-NHNN quy định trần tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, gọi tắt là LDR, ở mức 95%. Đây là chỉ tiêu của ngân hàng, được tính theo những cấu phần và khoản điều chỉnh cụ thể; không phải quy định cho phép một cá nhân vay 95% giá trị căn nhà hay 95% nhu cầu vốn.

Không phải tất cả cùng được nới ngay

Thông tư có hiệu lực từ ngày 1.12.2026, nhưng thời điểm áp dụng trần LDR mới gắn với việc ngân hàng chuyển sang áp dụng hai chỉ tiêu thanh khoản LCR và NSFR. Trước thời điểm đó, ngân hàng tiếp tục thực hiện các tỷ lệ theo cơ chế hiện hành.

Lộ trình chung bắt đầu từ ngày 1.10.2028; ngân hàng đáp ứng điều kiện có thể đăng ký áp dụng sớm. Vì thế, diễn đạt “từ tháng 12, tất cả ngân hàng được nâng trần từ 85% lên 95%” sẽ bỏ mất điều kiện chuyển tiếp quan trọng.

Về bản chất, LCR chú trọng khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, còn NSFR hướng tới sự ổn định của nguồn vốn. Khi đáp ứng ngưỡng 100% đối với cả hai chỉ tiêu theo quy định, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR của thông tư. Điều này cho thấy chính sách là một bước thay đổi cách quản lý an toàn, chứ không đơn thuần cho phép đem nhiều tiền gửi hơn đi cho vay.

Có thể hình dung bằng ví dụ đơn giản: nếu cơ sở tiền gửi dùng để tính tỷ lệ là 100 đồng và các yếu tố khác giữ nguyên, trần 85% tương ứng 85 đồng dư nợ, trần 95% tương ứng 95 đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là minh họa số học. Cách xác định nguồn vốn, khoản loại trừ và những giới hạn khác khiến dư địa thực tế không thể tính bằng phép cộng cơ học cho toàn hệ thống.

Ngân hàng có chỗ cho vay, khách hàng vẫn cần khả năng trả nợ

Phân tích của MBS được VnEconomy dẫn lại đánh giá ngân hàng áp dụng sớm các chỉ tiêu mới có thể được hỗ trợ thanh khoản và có thêm dư địa cho hoạt động cho vay. Đây là nhận định về phía cung vốn, không phải cam kết giải ngân cho từng người vay.

Từ góc nhìn người vay, cần tách hai tình huống. Nếu một hồ sơ có khả năng trả nợ tốt nhưng ngân hàng đang hạn chế giải ngân vì cân đối nguồn vốn, việc có thêm dư địa có thể tạo thuận lợi. Nếu vướng mắc nằm ở dòng tiền yếu, mục đích vay chưa rõ hoặc hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, thay đổi LDR không tự giải quyết những vấn đề ấy.

Giả sử một hộ kinh doanh có đơn hàng nhưng chưa thể hiện rõ doanh thu, chi phí và dòng tiền qua tài khoản. Điều họ cần chuẩn bị là bằng chứng về khả năng hoàn trả: hợp đồng, chứng từ, lịch thu tiền và kế hoạch sử dụng vốn. Chờ một thông tin “nới trần” sẽ không thay thế được những phần còn thiếu trong hồ sơ.

Tương tự, với khoản vay mua nhà, tỷ lệ cho vay của ngân hàng trên toàn bộ nguồn vốn không quyết định trực tiếp tỷ lệ tài trợ cho một căn nhà cụ thể. Người mua vẫn cần biết số vốn tự có, khoản trả hằng tháng và khả năng chịu đựng khi thu nhập biến động.

Lãi suất có giảm theo?

Có thêm khả năng cho vay không tự động tạo ra vốn rẻ. Giá khoản vay còn chịu tác động của chi phí huy động, thời hạn, rủi ro khách hàng và cạnh tranh giữa các ngân hàng. Vì vậy, chưa thể chỉ dựa vào mức LDR 95% để dự báo lãi suất của một hợp đồng sẽ giảm.

Nhìn từ quản trị nguồn vốn, việc tăng cho vay cũng phải đi cùng khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền và nghĩa vụ thanh toán. Cần lưu ý nới giới hạn LDR không đồng nghĩa mở rộng tín dụng không giới hạn, cân đối nguồn vốn và thanh khoản vẫn là yêu cầu xuyên suốt.

Với người đang cần vốn, câu hỏi nên đặt cho ngân hàng là hồ sơ vướng ở đâu, cần bổ sung gì, mức lãi sau ưu đãi được tính thế nào và tổng nghĩa vụ trả nợ ra sao. Những câu trả lời này hữu ích hơn việc suy đoán từ một tỷ lệ ở cấp hệ thống.

Một chính sách mở thêm dư địa chỉ thực sự có ý nghĩa với người dân khi chuyển thành khoản vay phù hợp, điều kiện minh bạch và lịch trả nợ có thể thực hiện. Vay được nhiều hơn chưa chắc đã tốt bằng vay đúng nhu cầu, với chi phí mà gia đình hoặc doanh nghiệp chịu được.