Quảng Ngãi:
Lý Sơn hỗ trợ cá giống, mở hướng sinh kế mới cho người nuôi lồng bè
VHO - Sau những thiệt hại nặng nề do cá bớp chết hàng loạt, 52.000 con cá Bè vẫu giống được hỗ trợ cho 26 hộ nuôi lồng bè ở Lý Sơn (Quảng Ngãi), tạo thêm cơ hội khôi phục sản xuất, đa dạng sinh kế và hướng đến nghề nuôi biển bền vững hơn.

Từ thiệt hại đến cơ hội khôi phục sinh kế
Đầu tháng 4.2026, cá bớp nuôi lồng bè trên địa bàn đặc khu Lý Sơn chết hàng loạt, gây thiệt hại hơn 148 tấn cá, tổng giá trị ước tính hơn 20 tỉ đồng. Với người nuôi, đây là khoản tổn thất lớn sau nhiều tháng đầu tư vốn, công sức và chi phí thức ăn.
Ngay sau sự cố, ngành chuyên môn tiến hành lấy mẫu nước và mẫu cá để xác định nguyên nhân. Kết quả cho thấy các thông số môi trường nước tại thời điểm lấy mẫu nằm trong giới hạn cho phép; mẫu cá không phát hiện bệnh VNN (hoại tử thần kinh) và kí sinh trùng. Tuy nhiên, mật độ Vibrio spp. ở mức cao và các mẫu đều dương tính với Streptococcus spp.
Những kết quả này cho thấy nuôi cá lồng bè trên biển vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. Chất lượng con giống, sức khỏe đàn cá, môi trường nước, thức ăn và quy trình chăm sóc đều có thể tác động đến hiệu quả vụ nuôi.

Ông Bùi Thế Vinh, ở thôn Tây An Hải, nhiều năm gắn bó với nghề nuôi cá lồng bè, cho biết cá bớp từng đem lại nguồn thu nhập khá cho gia đình. Tuy nhiên, đây cũng là đối tượng nuôi đòi hỏi vốn đầu tư lớn và tiềm ẩn rủi ro.
“Nuôi cá bớp có thời điểm cho thu nhập khá, nhưng người nuôi luôn phải lo. Cá phát bệnh, môi trường thay đổi là có thể thiệt hại rất lớn. Bỏ vốn, bỏ công nhiều tháng mà mất trắng thì rất khó khăn”, ông Vinh chia sẻ.
Sau những thiệt hại vừa qua, chuyển sang một đối tượng nuôi khác được nhiều hộ hi vọng sẽ góp phần giảm sự phụ thuộc vào cá bớp, đồng thời tạo thêm phương án sản xuất cho nghề nuôi biển tại địa phương.

Hỗ trợ con giống gắn với kĩ thuật, đầu ra
Từ nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, đặc khu Lý Sơn hỗ trợ 52.000 con cá Bè vẫu giống cho 26 hộ nuôi lồng bè. Bình quân mỗi hộ được hỗ trợ khoảng 40 triệu đồng.
Cá giống được kiểm tra, bảo đảm kích cỡ từ 8cm trở lên, khỏe mạnh, đồng đều và có nguồn gốc rõ ràng. Cùng với con giống, các hộ còn được cán bộ chuyên môn hướng dẫn kĩ thuật chăm sóc, quản lý môi trường và theo dõi sức khỏe đàn cá trong quá trình nuôi.
Ông Nguyễn Văn Thọ, ở thôn Tây An Vĩnh, một trong những hộ nhận cá Bè vẫu giống đợt này, cho biết sau những thiệt hại vừa qua, nguồn hỗ trợ giúp gia đình giảm một phần chi phí đầu tư ban đầu.
“Sau những thiệt hại vừa qua, bà con rất lo lắng. Được Nhà nước hỗ trợ giống và hướng dẫn kĩ thuật nuôi, chúng tôi rất phấn khởi. Đây là nguồn động viên lớn để người dân tiếp tục bám biển, phát triển sản xuất”, ông Thọ nói.

Việc lựa chọn cá Bè vẫu không đặt mục tiêu thay thế hoàn toàn cá bớp, mà hướng đến đa dạng hóa đối tượng nuôi. Đây cũng là một trong những hướng được cơ quan chuyên môn khuyến cáo sau sự cố cá bớp chết hàng loạt tại Lý Sơn.
Cá Bè vẫu có khả năng thích nghi với điều kiện nuôi biển và có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, để mô hình đạt hiệu quả, người nuôi phải thay đổi phương thức chăm sóc, tăng cường quản lý đàn cá và chủ động kiểm soát các yếu tố môi trường.
Theo ông Phạm Tuấn, chuyên viên kĩ thuật Trung tâm Cung ứng dịch vụ công đặc khu Lý Sơn, các hộ cần thường xuyên theo dõi môi trường nước, vệ sinh và thay lưới lồng định kì, phân cỡ cá, theo dõi khả năng bắt mồi và kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường.
“Với cá Bè vẫu, quản lý thức ăn cũng là yêu cầu quan trọng. Cho ăn không phù hợp vừa ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, vừa có thể làm tăng chất hữu cơ trong khu vực nuôi. Vì vậy, người nuôi phải điều chỉnh lượng thức ăn theo kích cỡ và sức ăn của cá, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm”, ông Tuấn nói.

Liên kết sản xuất, thêm điểm tựa cho người nuôi biển
Một điểm đáng chú ý của mô hình là nguồn hỗ trợ không chỉ dừng ở việc cấp con giống mà được đặt trong chuỗi liên kết sản xuất, từ cung ứng đầu vào, hướng dẫn kĩ thuật đến tiêu thụ sản phẩm.
Theo đó, người dân trực tiếp nuôi và đối ứng một phần chi phí thức ăn, thuốc, chế phẩm sinh học; doanh nghiệp tham gia cung ứng giống, hỗ trợ kĩ thuật và liên kết thu mua sản phẩm.
Cách làm này hướng chính sách hỗ trợ từ việc giảm chi phí đầu vào trước mắt sang tạo điều kiện để người dân tổ chức lại sản xuất. Nhà nước hỗ trợ một phần nguồn lực; cán bộ kĩ thuật đồng hành trong quá trình nuôi; doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và tiêu thụ; còn người dân trực tiếp sản xuất và chịu trách nhiệm về hiệu quả vụ nuôi.
Theo ông Trương Đình Nho, Phó Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công đặc khu Lý Sơn, giá trị của chương trình không chỉ nằm ở số lượng con giống được hỗ trợ mà còn ở việc tạo thêm lựa chọn sinh kế cho người dân sau những thiệt hại vừa qua.
“Hỗ trợ giống chỉ là bước khởi đầu. Mục tiêu lớn hơn là giúp người dân khôi phục sản xuất, tiếp cận kĩ thuật mới và hình thành phương thức nuôi phù hợp hơn với điều kiện biển đảo. Khi sản xuất có liên kết và có đầu ra, người dân sẽ có thêm cơ sở để ổn định sinh kế”, ông Nho chia sẻ.

Mô hình được triển khai trong 10 tháng, hướng tới sản lượng khoảng 23,31 tấn cá thương phẩm. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, giá bán, chi phí thức ăn, thời tiết, dịch bệnh và diễn biến thị trường.
Với những hộ vừa trải qua một vụ nuôi thất bát, nguồn cá giống lần này trước hết tạo cơ hội để bắt đầu lại. Quan trọng hơn, mô hình đặt ra hướng tiếp cận mới đối với nghề nuôi lồng bè: chủ động hơn về con giống, kĩ thuật và môi trường; đa dạng hơn về đối tượng nuôi; đồng thời tăng cường liên kết giữa người dân, cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp.
Nếu được triển khai hiệu quả, đây không chỉ là giải pháp hỗ trợ trước mắt mà còn có thể góp phần giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và từng bước tạo nền tảng cho sinh kế bền vững hơn đối với người nuôi biển ở Lý Sơn.

RSS