Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào?

NGUYỄN ANH; ảnh: ĐINH AN

VHO - Việt Nam tăng 7 bậc, lên vị trí 52/110 nền kinh tế trong Bảng xếp hạng Chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành toàn cầu (TTDI) 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF).

Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào? - ảnh 1
Việt Nam tăng 7 bậc, lên vị trí 52/110 nền kinh tế trong Bảng xếp hạng Chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành toàn cầu (TTDI) 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). Ảnh: Sở VHTTDL Hà Nội

Thứ hạng cao hơn, yêu cầu cũng cao hơn

Một thứ hạng cao hơn cho thấy nhiều điều kiện nền tảng của du lịch đã được cải thiện. Song giá trị lớn hơn của bảng xếp hạng nằm ở những khoảng cách mà nó chỉ ra: chất lượng hạ tầng và dịch vụ, môi trường, mức độ ưu tiên dành cho du lịch và khả năng chuyển tăng trưởng du lịch thành tác động kinh tế - xã hội rộng hơn.

Khi mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã được xác lập, Việt Nam sẽ nâng chất lượng phát triển ở đâu và bằng cách nào?

TTDI 2026 đưa Việt Nam lên vị trí 52/110, đạt 4,15 điểm, tăng 6,1% so với kỳ đánh giá trước. Đây là mức cải thiện đáng ghi nhận trong một hệ thống đánh giá 17 trụ cột và 102 chỉ số thành phần.

Việt Nam có 7 trụ cột nằm trong nhóm 35 nền kinh tế dẫn đầu, nổi bật là: Sức cạnh tranh về giá, an toàn và an ninh, tài nguyên văn hóa, tài nguyên tự nhiên, mức độ bền vững của nhu cầu du lịch, tài nguyên phi giải trí và hạ tầng vận tải hàng không.

Nhìn vào những chỉ số này có thể thấy nền tảng hấp dẫn của điểm đến Việt Nam đang được quốc tế ghi nhận khá rõ.

Một đất nước có tài nguyên tự nhiên phong phú, di sản văn hóa đa dạng, ẩm thực giàu bản sắc, môi trường an toàn và khả năng tiếp cận bằng đường hàng không ngày càng thuận lợi đang sở hữu những điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường.

Nhưng TTDI cũng đưa ra những cách nhìn nhận khác. WEF xác định chỉ số này đo những yếu tố và chính sách tạo điều kiện để ngành Du lịch phát triển bền vững, có sức chống chịu và tạo lợi ích cho nền kinh tế, xã hội chứ đây không phải là bảng đo trực tiếp lượng khách hay doanh thu.

Vì thế, một thứ hạng tăng lên trước hết cho thấy năng lực nền tảng đang được cải thiện, còn khả năng biến nền tảng ấy thành giá trị kinh tế lại phụ thuộc vào chất lượng vận hành của toàn bộ hệ sinh thái du lịch.

Đây cũng là điểm cần nhìn nhận sau kết quả TTDI 2026. Tăng hạng là một kết quả tích cực, song mỗi bậc tiến lên cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng phát triển.

Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào? - ảnh 2
Hạ tầng vận tải hàng không là 1 trong 7 trụ cột của Việt Nam nằm trong nhóm 35 nền kinh tế dẫn đầu

Khoảng cách ở phía sau những con số

Trong 17 trụ cột của TTDI, Việt Nam vẫn có những chỉ số nằm ở nhóm thấp. Hạ tầng và dịch vụ du lịch đứng thứ 74; bền vững môi trường đứng thứ 76; mức độ ưu tiên cho du lịch đứng thứ 97; tác động kinh tế - xã hội của du lịch đứng thứ 106.

Nếu những chỉ số có thứ hạng cao phản ánh lợi thế sẵn có của Việt Nam, nhóm chỉ số thấp lại gợi mở những việc cần làm trong giai đoạn phát triển mới.

Hạ tầng vận tải hàng không đã có vị trí khá tốt, nhưng trải nghiệm của du khách không kết thúc ở sân bay.

Một điểm đến có sức cạnh tranh thực sự cần một chuỗi kết nối hoàn chỉnh: giao thông mặt đất, đường thủy, đường sắt, bến cảng, cơ sở lưu trú, dịch vụ vui chơi, mua sắm, ẩm thực, y tế, thông tin và các tiện ích số. Một mắt xích yếu có thể làm giảm giá trị của cả chuyến đi.

Nâng chất lượng hạ tầng vì thế không nên hiểu chỉ là xây thêm công trình. Quan trọng hơn là tổ chức lại không gian dịch vụ để du khách có thể di chuyển thuận tiện, tiếp cận sản phẩm dễ dàng, chi tiêu nhiều hơn và dành thêm thời gian cho điểm đến.

Khoảng cách về bền vững môi trường cũng đặt ra một yêu cầu ngày càng cấp thiết. Khi khách quốc tế quan tâm nhiều hơn tới thiên nhiên, sức khỏe và những trải nghiệm có trách nhiệm, tài nguyên môi trường đã trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.

Biển, rừng, sông, hồ, vùng đất ngập nước hay các khu bảo tồn vừa là tài nguyên du lịch, vừa là nền tảng sinh thái cần được bảo vệ.

Nếu phát triển du lịch làm suy giảm chính tài nguyên tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến, tăng trưởng hôm nay có thể trở thành chi phí của ngày mai. Vì vậy, chất lượng môi trường cần được đặt cùng cấp độ với chất lượng dịch vụ trong quản trị điểm đến.

Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào? - ảnh 3
Du lịch Việt Nam hướng tới việc giữ chân du khách lưu trú lâu hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn, trải nghiệm nhiều sản phẩm hơn và chi tiêu nhiều hơn

Văn hóa phải trở thành giá trị kinh tế

8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 670,3 nghìn tỉ đồng, tăng 16,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 68,7 nghìn tỉ đồng, tăng 17,1%.

Những con số này cho thấy sức phục hồi và mở rộng thị trường đang diễn ra khá mạnh. Châu Âu tăng 53,4%, trong đó khách Nga tăng 165,7%; khách Mỹ tăng 20,4%; Australia tăng 23,3%; Ấn Độ tăng 38,2%.

Cấu trúc thị trường cũng đang mở rộng, tạo thêm dư địa cho du lịch Việt Nam. Song khi đặt cạnh mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, vấn đề đặt ra là làm thế nào để du khách lưu trú lâu hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn, trải nghiệm nhiều sản phẩm hơn và chi tiêu nhiều hơn.

Vì thế, chất lượng tăng trưởng phải được nhìn qua những chỉ số như thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỉ lệ khách quay lại, mức độ hài lòng, giá trị giữ lại trong nền kinh tế địa phương, khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng và mức độ lan tỏa sang các ngành khác.

Đây cũng chính là điểm gặp nhau giữa TTDI 2026 và định hướng phát triển được xác lập trong Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22.8.2026.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu khách quốc tế, phục vụ 160 triệu khách nội địa và đạt tổng thu 80-90 tỉ USD. Quan trọng hơn, Nghị quyết xác định rõ yêu cầu chuyển mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

Như vậy, đích đến của du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới không phải là một con số khách lớn hơn mà hướng tới mỗi lượt khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp, người lao động, cộng đồng và nền kinh tế.

Một trong những lợi thế nổi bật của Việt Nam trong TTDI là tài nguyên văn hóa, đứng thứ 21 thế giới. Đây là một vị trí có ý nghĩa lớn bởi văn hóa chính là phần tài sản khó sao chép nhất của một điểm đến.

Nhưng tài nguyên văn hóa chỉ thực sự tạo ra sức cạnh tranh khi được chuyển hóa thành sản phẩm có chất lượng.

Di sản cần được kể bằng những câu chuyện hấp dẫn; bảo tàng cần có phương thức trải nghiệm phù hợp với công chúng mới; nghệ thuật truyền thống cần có không gian trình diễn; lễ hội cần được tổ chức với chất lượng cao; ẩm thực cần được kết nối với trải nghiệm điểm đến; điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế và công nghệ sáng tạo có thể mở thêm những không gian mới cho du lịch.

Nghị quyết 26-NQ/TW đã đặt rõ mối quan hệ giữa du lịch và công nghiệp văn hóa, khuyến khích hình thành những sản phẩm kết hợp văn hóa, nghệ thuật, giải trí, công nghệ số và kinh tế đêm.

Đây là hướng đi có khả năng mở rộng giá trị của một chuyến du lịch. Một di sản không chỉ được tham quan trong vài giờ. Nếu được tổ chức thành không gian văn hóa, biểu diễn, ẩm thực, mua sắm, sáng tạo và trải nghiệm, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách có thể được mở rộng theo.

Khi ấy, giá trị kinh tế của văn hóa không nằm ở việc bán một tấm vé tham quan, mà nằm trong cả hệ sinh thái được hình thành xung quanh tài sản văn hóa.

Chất lượng dịch vụ bắt đầu từ con người

TTDI 2026 xếp Việt Nam ở vị trí 50 về nhân lực và thị trường lao động. Đây là nhóm chỉ số thuộc mức trung bình khá, song yêu cầu của thị trường quốc tế đang thay đổi nhanh.

Du khách ngày càng có nhiều lựa chọn. Công nghệ giúp họ so sánh điểm đến, cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ chỉ trong vài phút. Khi thông tin trở nên minh bạch hơn, chất lượng trải nghiệm tại điểm đến sẽ trở thành yếu tố quyết định mạnh hơn.

Một điểm đến đẹp có thể thu hút khách lần đầu. Một dịch vụ tốt có thể tạo ra sự hài lòng. Nhưng sự chuyên nghiệp trong từng tiếp xúc mới góp phần tạo ra mong muốn quay trở lại và giới thiệu điểm đến cho người khác.

Nhân lực du lịch vì vậy cần được nhìn từ yêu cầu của chuỗi giá trị mới. Ngoại ngữ, nghiệp vụ, kỹ năng số, khả năng xử lý tình huống, hiểu biết văn hóa, tư duy dịch vụ và năng lực sáng tạo đều cần được tích hợp trong đào tạo.

Nghị quyết 26-NQ/TW cũng đặt yêu cầu xây dựng đội ngũ nhân lực đáp ứng chuẩn nghề nghiệp, tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, khoảng cách giữa kiến thức trong nhà trường và yêu cầu tại điểm đến sẽ được thu hẹp.

Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào? - ảnh 4
Một điểm đến có tài nguyên tốt chưa chắc đã có năng lực cạnh tranh cao. Năng lực cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng quản trị

Du lịch cần được quản trị như một hệ sinh thái kinh tế

Một điểm đáng suy nghĩ khác từ TTDI là chỉ số về Tác động kinh tế - xã hội của du lịch đứng thứ 106. Đây có lẽ là khoảng cách cần được nhìn nhận sâu nhất nếu mục tiêu cuối cùng là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Một ngành kinh tế mũi nhọn không thể chỉ được đánh giá qua số khách hay doanh thu trực tiếp. Giá trị của du lịch còn nằm ở những ngành mà nó kéo theo: vận tải, hàng không, nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, bán lẻ, ẩm thực, giải trí, văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghệ, tài chính và kinh tế ban đêm.

Muốn gia tăng tác động ấy, cần làm cho các mắt xích trong chuỗi giá trị liên kết chặt hơn. Nông sản địa phương cần đi vào hệ thống nhà hàng, khách sạn; sản phẩm làng nghề cần trở thành hàng hóa du lịch; nghệ thuật cần có không gian biểu diễn; doanh nghiệp công nghệ cần tham gia hệ sinh thái du lịch số; cộng đồng cần có cơ hội tạo sinh kế từ sự phát triển của điểm đến.

Khi nhiều giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế trong nước, du lịch mới thực sự phát huy sức lan tỏa.

Đó cũng là lý do Nghị quyết 26-NQ/TW xác định du lịch theo mô hình hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, kết nối với thương mại, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số và kinh tế đêm.

Khoảng trống lớn nhất có thể nằm ở năng lực quản trị

Một điểm đến có tài nguyên tốt chưa chắc đã có năng lực cạnh tranh cao. Năng lực cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng quản trị.

Quản trị điểm đến hiện đại cần trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Khách đến từ đâu? Họ ở bao lâu? Chi tiêu cho dịch vụ nào? Những thời điểm nào quá tải? Sản phẩm nào được yêu thích? Mức độ hài lòng ra sao? Khách rời đi vì lý do gì? Doanh nghiệp địa phương nhận được bao nhiêu giá trị? Tài nguyên môi trường đang chịu áp lực ở mức nào? Những câu hỏi ấy cần được trả lời bằng dữ liệu.

Khi dữ liệu được kết nối, cơ quan quản lý có thể điều chỉnh chính sách sát hơn; doanh nghiệp có thể thiết kế sản phẩm đúng nhu cầu; điểm đến sẽ phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn; hoạt động xúc tiến chuyển từ quảng bá diện rộng sang tiếp cận đúng thị trường.

TTDI 2026 cũng cho thấy công nghệ thông tin và truyền thông là một trong những lĩnh vực Việt Nam đã có bước tiến, nhưng sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang khiến yêu cầu về dữ liệu, nhân lực số và năng lực quản trị thay đổi rất nhanh.

Vì thế, xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và nền tảng số quốc gia cần được nhìn như một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia, chứ không phải một dự án công nghệ đơn lẻ.

Sau 7 bậc tăng hạng, du lịch Việt Nam cần nâng chất lượng nào? - ảnh 5
Khi chất lượng hạ tầng, dịch vụ, nhân lực, môi trường, sản phẩm và quản trị cùng được nâng lên, thứ hạng quốc tế sẽ trở thành kết quả của một quá trình phát triển thực chất

Tăng hạng chỉ có ý nghĩa khi chất lượng phát triển tăng lên

TTDI 2026 cho thấy điều kiện phát triển du lịch toàn cầu đang được cải thiện mạnh. WEF ghi nhận 92% trong 110 nền kinh tế được đánh giá tăng điểm so với năm 2024; đồng thời cảnh báo những khoảng cách về đầu tư, nhân lực, kỹ năng và bền vững đang trở thành sức ép đối với khả năng phát triển dài hạn của ngành.

Điều đó có nghĩa cuộc cạnh tranh về du lịch đang chuyển sang một tầng mới. Nhiều quốc gia cùng cải thiện hạ tầng, kết nối và khả năng tiếp cận thị trường. Khi những lợi thế cơ bản dần thu hẹp, chất lượng trải nghiệm, năng lực quản trị, khả năng tạo giá trị và mức độ bền vững sẽ quyết định sự khác biệt.

Việt Nam đang đứng trước một thời điểm thuận lợi. Thị trường quốc tế tăng trưởng, nhiều thị trường mới mở rộng, tài nguyên văn hóa và tự nhiên được đánh giá cao, hàng không tiếp tục tạo thuận lợi cho khả năng tiếp cận. Nghị quyết 26-NQ/TW đã xác lập một hướng phát triển rõ ràng hơn cho du lịch trong mô hình tăng trưởng mới.

Phần việc còn lại là biến những lợi thế ấy thành năng lực vận hành. Sau 7 bậc tăng hạng, mỗi bước tiến cần đi cùng những điểm đến tốt hơn, trải nghiệm sâu hơn, sản phẩm có giá trị cao hơn, người lao động có thu nhập tốt hơn và một phần giá trị lớn hơn được giữ lại trong nền kinh tế.

Khi chất lượng hạ tầng, dịch vụ, nhân lực, môi trường, sản phẩm và quản trị cùng được nâng lên, thứ hạng quốc tế sẽ trở thành kết quả của một quá trình phát triển thực chất.

Khi du lịch tạo được sức lan tỏa mạnh sang văn hóa, thương mại, giao thông, nông nghiệp, công nghiệp sáng tạo và đời sống cộng đồng, vai trò ngành kinh tế mũi nhọn mới được thể hiện đầy đủ.

Tăng hạng là tín hiệu của một nền tảng đang tốt lên. Còn nâng chất lượng tăng trưởng mới là thước đo quan trọng hơn đối với chặng đường đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.