Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt

HUY AN

VHO - Sự kết hợp giữa giá trị di sản trường tồn qua 145 năm hình thành và tư duy kinh tế mới đang mở ra hướng đi đột phá cho ngành Đường sắt. Không chỉ hiện đại hóa hạ tầng, ngành Đường sắt còn biến di sản, văn hóa thành động lực phát triển du lịch và kinh tế quốc gia.

Nhân kỷ niệm 145 năm hình thành, phát triển Đường sắt Việt Nam (1881 - 2026) và 80 năm Ngày truyền thống ngành Đường sắt Việt Nam (1946 - 2026), ngày 30.10.2026, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản cùng Tập đoàn Đường sắt Việt Nam đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ với chủ đề “Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế, du lịch của ngành Đường sắt Việt Nam”. 

PGS, TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản; Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương; Chủ tịch Tập đoàn Đường sắt quốc gia Việt Nam Đặng Sỹ Mạnh đồng chủ trì Hội thảo.

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 1
Hội thảo có sự tham dự của đông đảo các nhà quản lý, chuyên gia và nhà khoa học

Sự kiện quy tụ gần 200 đại biểu là lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, đại diện các tỉnh thành có tuyến đường sắt đi qua, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cùng đông đảo doanh nghiệp du lịch, công nghệ và các tổ chức liên quan nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí của di sản, văn hóa đường sắt trong chiến lược phát triển kinh tế, du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn tại Hội thảo, ông Đặng Sỹ Mạnh, Chủ tịch Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam nhấn mạnh, trải qua chặng đường 145 năm hình thành và phát triển, Đường sắt Việt Nam không chỉ ghi dấu hành trình lịch sử mà còn lưu giữ những lớp trầm tích, sự giao thoa văn hóa, ký ức và khát vọng của đất nước.

Mỗi cây cầu, cung đường, nhà ga hay đoàn tàu đều mang dấu ấn thời đại, góp phần tạo nên các giá trị di sản quý giá của quốc gia.

Di sản đường sắt hiện diện hữu hình trong những thanh ray, tà vẹt, công trình kiến trúc kỹ thuật và không gian cảnh quan.

Bên cạnh đó, di sản phi vật thể bao gồm ký ức cộng đồng, câu chuyện lịch sử, văn hóa nghề nghiệp cùng tinh thần lao động sáng tạo của các thế hệ người lao động được bền bỉ gìn giữ và trao truyền.

Bảo tồn và phát huy di sản đường sắt không chỉ là trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là cơ hội chuyển hóa các giá trị đã bồi đắp thành nguồn lực mới, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế, du lịch và xã hội. 

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 2
Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 3
Các đại biểu tham luận tại Hội thảo

Trong bối cảnh tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng, vấn đề cốt lõi là chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy giá trị; từ vận tải thuần túy sang hành trình kết hợp văn hóa, du lịch và trải nghiệm; từ xem di sản là quá khứ sang khai thác có trách nhiệm để phát triển bền vững.

Để làm được điều đó, cần nhận diện và phát huy ba giá trị đặc trưng “Hình – Lý – Khí”: “Hình” là công trình, nhà ga, đoàn tàu độc đáo; “ Lý” là những câu chuyện lịch sử; và “Khí” là sinh khí, nhịp thở cùng tiếng còi tàu trên mỗi cung đường. 

Định hướng này hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80 ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực phát triển đất nước.

Thời gian qua, ngành Đường sắt đã đạt những chuyển biến tích cực trong phát triển sản phẩm du lịch và dịch vụ.

Các đoàn tàu như “Hoa Phượng Đỏ”, “Hành trình kết nối di sản miền Trung” (Huế – Đà Nẵng, Huế - Phong Nha), “Hà Nội 5 cửa ô”, “Hành trình đêm Đà Lạt”, tàu cao cấp “SJourney” cùng phong trào “Đường tàu – Đường hoa; Mỗi cung đường - một loài hoa, mỗi khu ga - một điểm đến” đã làm mới hình ảnh ngành.

Đáng chú ý, tuyến đường sắt Hà Nội – TP.HCM (1.726km) nhiều năm liền được các tạp chí quốc tế bình chọn là tuyến đường đáng trải nghiệm nhất thế giới.

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 4
Các đại biểu thảo luận tại Hội thảo

Đặc biệt, hai chuyến tàu Huế - Đà Nẵng và Đà Nẵng – Nha Trang đứng thứ 10 và 14 trong Top 20 đoàn tàu hỏa đẹp nhất thế giới năm 2026 do Condé Nast Traveler bình chọn.

Tuy nhiên, để tạo chuyển biến rõ nét, ngành Đường sắt cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực để hình thành hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ có bản sắc và hiệu quả kinh tế lâu dài.

Đối với Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam, bên cạnh vận tải truyền thống cần phát triển đồng bộ dịch vụ logistics, du lịch và trải nghiệm văn hóa, gắn kết hiện đại hóa hạ tầng với các tuyến đường sắt mới và mở rộng liên vận quốc tế.

Theo PGS, TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập những năm qua, ngành đường sắt đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ về tư duy chiến lược, khắc phục dần những điểm nghẽn để tạo ra diện mạo mới trong vận tải và logistics. 

Các đoàn tàu chất lượng cao trên các tuyến huyết mạch (như Hà Nội - Đà Nẵng, Hà Nội - Hải Phòng, TP.HCM - Nha Trang...) được đầu tư nâng cấp nội thất, dịch vụ thân thiện, kết hợp văn hóa bản địa đã thu hút đông đảo lượng khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần kích cầu du lịch quốc gia. 

Một trong những điểm sáng lớn nhất trong những năm gần đây là sự phát triển vượt bậc của vận tải hàng hóa liên vận quốc tế, khi ngành đường sắt đã thực hiện thành công việc đưa “cửa khẩu vào sâu trong nội địa”, giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa trực tiếp từ các cảng nội địa qua đường sắt sang Trung Quốc và đi các nước Trung Á, châu Âu.

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 5
Ngành Đường sắt đổi mới và nâng cấp hiện đại các đoàn tàu và dịch vụ
Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 6
Nội thất hiện đại, sang trọng trong các đoàn tàu. Ảnh: VNR

Đặc biệt, bước sang kỷ nguyên phát triển mới với dấu mốc chuyển đổi thành Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam, ngành đường sắt đang khẳng định mạnh mẽ vai trò dẫn dắt, tổ chức không gian kinh tế.

Thay vì cách tiếp cận truyền thống, ngành đã chủ động đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, biến điểm yếu về thời gian thành thế mạnh về trải nghiệm, cảnh quan và sự an toàn. 

Để đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên số, ngành đã quyết liệt tinh gọn bộ máy quản lý, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực OECD, ứng dụng công nghệ thông tin, AI, hệ thống vé điện tử, quản trị chuỗi cung ứng thông minh và tự động hóa bảo trì hạ tầng nhằm tối ưu hóa năng suất lao động, minh bạch tài chính và nâng cao chất lượng phục vụ.

Phân tích sâu hơn về nguồn lực nội sinh, PGS, TS Dương Trung Ý nhấn mạnh, trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần mà đã thực sự trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. 

Hướng tới mục tiêu chiến lược theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, việc khai thác tối ưu giá trị di sản và nguồn lực văn hóa mở ra hướng chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên thô sang mô hình dựa trên tri thức, sự sáng tạo và gia tăng giá trị cao. 

Thực tiễn đã chứng minh không thể có nền kinh tế độc lập nếu thiếu nền văn hóa độc lập. Văn hóa là sức mạnh mềm giúp quốc gia tạo dựng bản sắc riêng biệt, cần được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội và thẩm thấu sâu vào từng sản phẩm, dịch vụ, đô thị. 

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 7
Chuyến tàu Hành trình kết nối di sản miền Trung
Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 8
Chuyến tàu di sản “Hành trình về với xứ Trà” vừa được khai trương vào sáng nay 30.10. Ảnh: VNR

Đối với ngành đường sắt, văn hóa và di sản chính là chìa khóa cốt lõi để tái định vị giá trị kinh tế, tạo ra không gian kinh tế giá trị gia tăng cao khi kết hợp giữa hoài niệm lịch sử và tư duy dịch vụ hiện đại.

Tham luận về sự dịch chuyển mô hình giá trị, TS Nguyễn Sĩ Dũng nhận định rằng trong nền kinh tế trải nghiệm hiện đại, bản thân hành trình di chuyển bằng đường sắt không chỉ là một phương tiện mà chính là một sản phẩm trải nghiệm có giá trị cao, đòi hỏi phải chuyển đổi từ việc tạo ra giá trị dựa trên "công năng vận tải" sang giá trị dựa trên "trải nghiệm và cảm xúc". 

Đường sắt Việt Nam sở hữu những lợi thế độc quyền so với các phương thức vận tải khác.

Tring đó, lợi thế về không gian di sản dọc tuyến: Tuyến Tháp Chàm - Đà Lạt dài hơn 1.700km cùng các nhánh đi qua đa dạng địa hình từ đồng bằng đến miền núi cao, đèo Hải Vân và cung đường ven biển, cho phép hành khách chiêm ngưỡng cảnh quan ở tốc độ vừa đủ để cảm nhận khác biệt hoàn toàn với máy bay hay ô tô cao tốc.

Lợi thế về chiều sâu lịch sử và văn hóa gồm hệ thống di sản công nghiệp, kiến trúc nhà ga cổ (Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt), đường sắt răng cưa lịch sử và ký ức cộng đồng tạo ra "hồn cốt" thượng hạng cho du lịch hoài niệm và du lịch di sản.

Cùng với đó, trong xu thế dịch chuyển sang du lịch xanh, đường sắt là phương thức vận tải có lượng phát thải carbon thấp, trở thành xu hướng lựa chọn hàng đầu của du khách thế hệ mới và quốc tế cao cấp.

Phát huy giá trị di sản và nguồn lực văn hóa phát triển du lịch đường sắt  - ảnh 9
Đường sắt Việt Nam được du khách quốc tế đánh giá là tuyến đường đáng trải nghiệm nhất thế giới. Ảnh: VNR

Để thực hiện hóa sự chuyển đổi mô hình giá trị trong nền kinh tế trải nghiệm, TS Nguyễn Sĩ Dũng chỉ ra rằng sự thay đổi này đòi hỏi một tiến trình toàn diện trên ba trụ cột cốt lõi: chuyển đổi từ "vận tải hành khách" sang "kiến tạo hành trình" với các câu chuyện và không gian văn hóa di động; chuyển đổi từ "khai thác tài sản tĩnh" sang "vận hành hệ sinh thái động" tại các nhà ga, cầu hầm được tái định vị thành điểm đến văn hóa; và chuyển đổi từ "tư duy bao cấp/hành chính" sang "tư duy kinh tế trải nghiệm hiện đại" đánh giá qua hệ số lan tỏa kinh tế, kích thích chuỗi cung ứng phụ trợ và phát triển đô thị theo định hướng TOD.

Từ các trụ cột đó, các hướng đi chiến lược được tập trung triển khai gồm: tái định hình sản phẩm du lịch và dịch vụ trên tàu qua các đoàn tàu chuyên đề theo chủ đề văn hóa, thiết kế nội thất tinh tế thân thiện môi trường, số hóa trải nghiệm qua audio guide đa ngôn ngữ và AR/VR; biến các nhà ga thành trung tâm văn hóa và điểm đến đô thị thông qua việc tái thiết ga cổ, phát triển thương mại dịch vụ khép kín và ứng dụng mô hình TOD.

Cùng với đó, xây dựng hệ sinh thái liên kết ngành - vùng qua việc thiết lập đối tác chiến lược với các hãng lữ hành lớn để đóng gói tour trọn gói, phát triển kinh tế ban đêm với tàu đêm lưu trú chất lượng cao, đưa sản phẩm OCOP và văn hóa bản địa lên tàu.

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sự kết hợp giữa hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và bảo tồn di sản văn hóa thông qua tầm nhìn chiến lược của Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam sẽ là động lực then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, tạo ra các cực tăng trưởng hoàn toàn mới, đưa ngành đường sắt vươn lên thành biểu tượng tự hào của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa đất nước.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận, làm rõ về nhận diện đầy đủ di sản và hệ giá trị văn hóa. Đánh giá vai trò lịch sử của đường sắt; nhận diện các loại hình di sản vật thể, phi vật thể, tư liệu, kiến trúc, kỹ thuật, cảnh quan và văn hóa nghề nghiệp để làm rõ tiêu chí phân loại, bảo tồn và xác định thứ tự ưu tiên. 

Đồng thời, đánh giá thực tiễn và xác định hướng phát triển kinh tế di sản, du lịch. Phân tích hiệu quả các mô hình đã triển khai; đưa yếu tố văn hóa vào toàn bộ hành trình từ nhà ga, đoàn tàu đến phong cách phục vụ; kết nối đường sắt với di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, ẩm thực địa phương; tăng cường hợp tác với chính quyền và doanh nghiệp để chuyển lợi thế mạng lưới, cảnh quan thành lợi thế cạnh tranh.

Đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp chuyển hóa di sản thành động lực phát triển. Tích hợp bảo tồn di sản vào quy hoạch phát triển đường sắt quốc gia, đô thị, tốc độ cao và hành lang kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa hiện đại hóa và gìn giữ giá trị lịch sử.

Bên cạnh đó, đề xuất cơ chế quản lý tài sản, hợp tác công – tư, ứng dụng chuyển đổi số trong số hóa và quảng bá di sản, hướng tới lộ trình phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045...