Nhà nước đồng hành tháo gỡ điểm nghẽn cho du lịch
VHO - Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu chuyển mạnh mô hình phát triển du lịch từ số lượng sang chất lượng, lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh.
Tháo gỡ điểm nghẽn
Theo Báo cáo Chỉ số phát triển du lịch và lữ hành năm 2026, Việt Nam xếp thứ 52 trong số 110 nền kinh tế, tăng 7 bậc so với năm 2024. Trong đó, tài nguyên văn hóa đứng thứ 21, an ninh, an toàn đứng thứ 9.
Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam đón gần 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt khoảng 64% mục tiêu cả năm.

Những con số này cho thấy sức hấp dẫn của điểm đến Việt Nam và khả năng phục hồi, tăng trưởng của ngành Du lịch. Tuy nhiên, thứ hạng chung vẫn còn khoảng cách khá xa so với thứ hạng của các trụ cột về tài nguyên văn hóa, tài nguyên tự nhiên và an ninh, an toàn.
Khoảng cách ấy phản ánh một vấn đề cốt lõi: tiềm năng và sức hút của điểm đến chưa được chuyển hóa tương xứng thành chất lượng dịch vụ, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng quay trở lại của du khách và giá trị kinh tế được giữ lại tại địa phương.
Bài toán của du lịch Việt Nam vì thế không còn chỉ là thu hút thêm nhiều khách. Điều quan trọng hơn là làm sao để khách ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn, có trải nghiệm tốt hơn; đồng thời để người dân và doanh nghiệp tại điểm đến được tham gia sâu hơn, hưởng lợi nhiều hơn từ hoạt động du lịch.
Báo cáo Chỉ số phát triển du lịch và lữ hành năm 2026 cũng chỉ ra rằng, đối với nhóm các nền kinh tế du lịch mới nổi, trong đó có Việt Nam, lợi thế nổi bật nằm ở giá cả cạnh tranh và nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa. Trong khi đó, khoảng cách lớn nhất so với nhóm dẫn đầu lại thuộc về dịch vụ và hạ tầng du lịch, môi trường kinh doanh, nguồn nhân lực và những điều kiện bảo đảm cho phát triển bền vững.
Đây cũng là những điểm nghẽn đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW nhận diện: sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu, giá trị gia tăng chưa cao; năng lực quản trị điểm đến, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng dịch vụ còn hạn chế; sự phối hợp liên ngành, liên vùng chưa chặt chẽ; thể chế, hạ tầng, nguồn lực và tổ chức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan trực tiếp đến giao thông, xây dựng, thương mại, văn hóa, môi trường, y tế, an ninh, xuất nhập cảnh và quản lý địa phương. Một sản phẩm du lịch có thể được doanh nghiệp xây dựng trong thời gian ngắn, nhưng để đưa sản phẩm ấy vào vận hành lại phụ thuộc vào nhiều quy hoạch, thủ tục, tiêu chuẩn và cơ chế quản lý khác nhau.
Khi mỗi lĩnh vực được điều hành theo một quy trình riêng, thiếu đầu mối phối hợp và thiếu cơ chế xử lý những vấn đề liên ngành, cơ hội đầu tư có thể bị chậm lại, nguồn lực bị phân tán và những sản phẩm mới khó hình thành.
Vai trò đồng hành của Nhà nước trước hết phải được thể hiện ở việc tạo lập một môi trường chính sách thống nhất, minh bạch và có khả năng phản ứng trước những mô hình kinh doanh mới. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp trong việc xây dựng sản phẩm, nhưng cần tháo gỡ các rào cản để doanh nghiệp có thể đầu tư, đổi mới và cạnh tranh bình đẳng.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã mở ra hướng hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với kinh tế chia sẻ, nền tảng số, kinh tế ban đêm, kinh tế ven sông, ven biển và các tổ hợp du lịch, giải trí, văn hóa, thể thao. Đây là những không gian có khả năng tạo thêm sản phẩm, kéo dài thời gian trải nghiệm và tăng chi tiêu của du khách, nhưng cũng là những lĩnh vực dễ bị cản trở nếu chính sách chậm hơn thực tiễn.
Hiệu quả của quá trình tháo gỡ điểm nghẽn không chỉ được đo bằng số lượng văn bản được ban hành, mà còn phải thể hiện qua thời gian thực hiện thủ tục được rút ngắn, chi phí tuân thủ giảm xuống, nguồn lực xã hội được khơi thông và những sản phẩm mới thực sự đi vào hoạt động.
Mở đường cho du lịch
Trong chuỗi chính sách hỗ trợ du lịch, thị thực là khâu tác động trực tiếp đến quyết định lựa chọn điểm đến. Tài nguyên có thể hấp dẫn, sản phẩm có thể đặc sắc, nhưng những rào cản về thủ tục nhập cảnh, thời hạn lưu trú hoặc khả năng tiếp cận thông tin vẫn có thể khiến du khách chuyển sang một điểm đến thuận tiện hơn.
Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu tiếp tục nghiên cứu tạo thuận lợi về xuất nhập cảnh; mở rộng diện miễn thị thực song phương; áp dụng chính sách thị thực linh hoạt đối với các thị trường trọng điểm; có chính sách ưu đãi phù hợp với những phân khúc khách có khả năng đóng góp cao. Nghị quyết cũng đặt ra định hướng thí điểm có kiểm soát đối với khách lưu trú dài hạn và người làm việc từ xa.

Điều quan trọng là chính sách thị thực phải được thiết kế gắn với chiến lược thị trường, khả năng cung ứng dịch vụ và mục tiêu nâng cao chất lượng dòng khách. Mở cửa không chỉ nhằm tăng số lượt nhập cảnh, mà còn cần hướng đến những thị trường có khả năng lưu trú dài ngày, chi tiêu cao, sử dụng nhiều sản phẩm văn hóa, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, thể thao và du lịch xanh.
Tuy nhiên, thị thực thuận lợi mới chỉ giúp du khách bước qua cánh cửa đầu tiên. Khả năng giữ chân họ phụ thuộc vào chất lượng của toàn bộ hành trình, từ cửa khẩu, sân bay, cảng biển đến hệ thống giao thông kết nối, cơ sở lưu trú, dịch vụ tại điểm đến và những tiện ích nhỏ nhất trong quá trình trải nghiệm.
Hạ tầng du lịch vì thế không thể chỉ được hiểu là sân bay, đường cao tốc hoặc những dự án quy mô lớn. Hạ tầng còn là tuyến giao thông từ cửa ngõ đến điểm đến; bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, hệ thống biển chỉ dẫn; khả năng tiếp cận đối với người cao tuổi, trẻ em và người khuyết tật; hạ tầng số, thanh toán và cung cấp thông tin; năng lực thu gom, xử lý rác thải và bảo vệ môi trường.
Chỉ một mắt xích yếu cũng có thể làm giảm chất lượng của cả hành trình. Một đường bay mới khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu kết nối từ sân bay đến điểm du lịch còn bất tiện. Một điểm đến giàu tài nguyên khó giữ chân khách nếu thiếu dịch vụ về đêm, không gian trải nghiệm văn hóa, hệ thống thanh toán thuận tiện hoặc những tiện ích công cộng cơ bản.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông đa phương thức, gồm đường cao tốc, đường ven biển, sân bay, cảng tàu khách, bến du thuyền, đường thủy và đường sắt phục vụ du lịch. Cùng với đó là hạ tầng hội nghị, triển lãm, văn hóa, thể thao, thương mại, giải trí và hạ tầng số tại các trung tâm, điểm đến lớn.
Nguồn lực nhà nước cần tập trung vào những công trình có tính dẫn dắt, tạo kết nối vùng và khắc phục các điểm nghẽn mà khu vực tư nhân khó tự giải quyết. Cơ chế hợp tác công - tư phải được vận dụng thực chất để huy động nguồn lực xã hội, đồng thời phân định rõ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro giữa các bên.
Hạ tầng cũng phải gắn với không gian phát triển sản phẩm. Một tuyến đường không chỉ đưa khách đến điểm tham quan mà còn có thể kết nối làng nghề, di sản, không gian văn hóa, vùng sản xuất nông nghiệp và cộng đồng dân cư. Khi quy hoạch tốt, dòng khách được phân bổ rộng hơn, áp lực lên các trung tâm du lịch giảm xuống và lợi ích kinh tế được lan tỏa đến nhiều địa phương.
Chính sách chỉ phát huy giá trị khi du khách có thể đến Việt Nam thuận lợi, di chuyển dễ dàng, trải nghiệm những sản phẩm có bản sắc, sử dụng dịch vụ chất lượng và sẵn sàng quay trở lại. Khi đó, tăng trưởng du lịch không chỉ được đo bằng số lượng khách, mà còn bằng giá trị tạo ra cho doanh nghiệp, cộng đồng và nền kinh tế.

RSS