Mở “không gian” để OCOP bước vào hành trình du lịch
VHO - Đà Nẵng hiện có 477 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, cùng hệ sinh thái du lịch rộng lớn với nhiều kênh tiếp cận du khách. Tuy nhiên, khoảng cách giữa một sản phẩm được công nhận và một sản phẩm thực sự bước vào hành trình du lịch vẫn còn không ít “điểm nghẽn”. Làm thế nào để OCOP không chỉ được trưng bày, quảng bá mà trở thành món quà, trải nghiệm và một phần trong chuỗi cung ứng du lịch đang đặt ra yêu cầu về một cách kết nối thực chất hơn?

Những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ
Trong 477 sản phẩm OCOP còn hiệu lực có 4 sản phẩm 5 sao, 80 sản phẩm 4 sao và 393 sản phẩm 3 sao. Cơ cấu sản phẩm khá đa dạng, thành phố cũng đã hình thành 28 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP tại nhiều địa bàn, với quy mô và phương thức hoạt động khác nhau. Đây cũng là nguồn lực quan trọng để tạo thêm sản phẩm, trải nghiệm và giá trị gia tăng cho ngành Du lịch.
Những con số này cho thấy nguồn cung đã hình thành tương đối phong phú. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sản phẩm OCOP không chỉ được công nhận, trưng bày và quảng bá, mà thực sự trở thành một phần của hành trình du lịch, được doanh nghiệp lựa chọn, được du khách sử dụng và mua sắm, được tiêu thụ thường xuyên và tạo ra thu nhập bền vững cho chủ thể.
Từ thực tiễn kết nối bước đầu, có thể thấy những rào cản trong việc đưa sản phẩm OCOP Đà Nẵng vào thị trường du lịch đến từ nhiều phía, không chỉ từ bản thân sản phẩm mà còn từ năng lực cung ứng, khả năng tiếp cận thị trường, hệ thống phân phối và mức độ liên kết giữa các bên trong chuỗi. Một số sản phẩm chưa hoàn toàn phù hợp với nhu cầu và hành vi mua sắm của du khách; nhận diện thương hiệu còn chưa mạnh; thiếu không gian trải nghiệm và mua sắm chuyên biệt.
Trong khi đó, quy mô và năng lực cung ứng của một số chủ thể còn hạn chế, khả năng tiếp cận kênh phân phối hiện đại, chuyển đổi số và liên kết chuỗi chưa cao. Sự phối hợp giữa chủ thể OCOP, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và cơ quan quảng bá du lịch cũng chưa thật sự chặt chẽ. Các chương trình kết nối còn mang tính sự kiện, thiếu chiến lược dài hạn.
Những “điểm nghẽn” này cho thấy nỗ lực của riêng chủ thể OCOP là chưa đủ. Để sản phẩm tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng du lịch, cần sự đồng hành của Nhà nước và doanh nghiệp trong hoàn thiện sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cung ứng và duy trì đầu ra. Nói cách khác, vấn đề của thành phố hiện nay không phải là bắt đầu kết nối từ con số không, mà là từ những mô hình bước đầu đã có, làm thế nào để chuẩn hóa, nhân rộng và hình thành các mạng lưới cung ứng thường xuyên, có đơn hàng và doanh thu ổn định. Đó cũng là quá trình chuyển từ “kết nối để giới thiệu sản phẩm” sang “kết nối để hình thành thị trường và chuỗi cung ứng du lịch”.
Tạo những “điểm chạm”
Mỗi sản phẩm OCOP đều chứa đựng nguyên liệu bản địa, tri thức dân gian, kỹ năng nghề và câu chuyện văn hóa của vùng đất. Đây chính là tài sản vô hình có thể góp phần tạo nên thương hiệu điểm đến.
Nhưng câu hỏi trọng tâm không chỉ là “có sản phẩm gì”, mà là làm thế nào để sản phẩm trở thành một phần trong trải nghiệm của du khách. Khi một sản phẩm được đưa vào tour, được giới thiệu tại khách sạn, nhà hàng, sân bay hoặc trở thành một trải nghiệm tại làng nghề, giá trị của sản phẩm không còn dừng ở một món hàng. Nhà sản xuất tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp du lịch tạo ra trải nghiệm, hệ thống phân phối đưa sản phẩm đến đúng “điểm chạm”, còn du khách trở thành những “sứ giả” tiếp tục lan tỏa câu chuyện, văn hóa và hình ảnh Đà Nẵng.
Theo ông Văn Bá Sơn, Phó Giám đốc Sở VHTTDL Đà Nẵng, gắn kết OCOP với du lịch phải được đặt trong khung phát triển bền vững, dựa trên bốn trụ cột căn bản: Giảm thiểu tác động môi trường qua việc sử dụng nguyên liệu và bao bì thân thiện; bảo tồn thiên nhiên và văn hóa bằng cách lồng ghép các giá trị bản địa vào sản phẩm và điểm đến; nâng cao chất lượng trải nghiệm thông qua việc thiết kế các hành trình tương tác, khám phá làng nghề và bảo đảm cộng đồng địa phương được tham gia, hưởng lợi công bằng, từ sản xuất, phân phối đến dịch vụ du lịch.
Từ góc nhìn chủ thể OCOP, bà Nguyễn Thị Kiều Anh, Giám đốc HTX Nông nghiệp Xanh Gò Nổi, thừa nhận một sản phẩm đạt OCOP chưa có nghĩa là đã phù hợp hoàn toàn với khách du lịch. Một khó khăn của HTX và doanh nghiệp nhỏ là tiếp cận khách sạn, resort, nhà hàng, điểm du lịch và doanh nghiệp lữ hành. Đồng thời mong muốn có các chương trình tăng cường kết nối với doanh nghiệp du lịch và đề xuất thử nghiệm chương trình “Mỗi tour một sản phẩm OCOP - Mỗi điểm đến một câu chuyện bản địa”.
“Du khách thường quan tâm đến sản phẩm nhỏ gọn, đẹp, dễ mang theo, có câu chuyện, nguồn gốc rõ ràng và thể hiện được bản sắc địa phương. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy có sản phẩm OCOP rồi tìm nơi bán sang hiểu nhu cầu của du khách để thiết kế sản phẩm phù hợp ngay từ đầu”, bà Kiều Anh chia sẻ.
Ông Trần Nam Hưng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh: “Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của thành phố là việc kết nối phải bảo đảm nguyên tắc hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro giữa các bên. Doanh nghiệp du lịch có được nguồn sản phẩm đặc sắc, chất lượng và ổn định để nâng tầm dịch vụ. Chủ thể OCOP mở rộng được thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và có đơn hàng bền vững. Chính quyền địa phương phát huy được giá trị văn hóa bản địa, thúc đẩy kinh tế nông thôn. Và quan trọng nhất, du khách phải có được những sản phẩm chất lượng, chứa đựng câu chuyện văn hóa độc đáo và mang về những trải nghiệm đáng nhớ về Đà Nẵng”.

RSS