Nghị quyết số 26 - Tầm nhìn mới cho du lịch Việt Nam:

Kỳ cuối - Tái cấu trúc để du lịch tạo ra giá trị mới

THUÝ HÀ (thực hiện)

VHO - Nghị quyết số 26 đã mở ra một tầm nhìn mới cho du lịch Việt Nam, với yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng theo quy mô sang phát triển dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và tính bền vững. Nhưng để tầm nhìn đó trở thành hiện thực, những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, liên kết và tổ chức thực hiện cần được tháo gỡ bằng những bước đi đủ mạnh.

 Trao đổi với Văn Hóa, TS Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch cho rằng, thành công của Nghị quyết không chỉ được đo bằng lượng khách hay doanh thu, mà phải được nhận diện qua những chuyển động thực chất của doanh nghiệp, điểm đến và cộng đồng.

Kỳ cuối - Tái cấu trúc để du lịch tạo ra giá trị mới - ảnh 1
Việt Nam cần tạo đột phá về sản phẩm và thị trường. Ảnh: VISIT HOI AN

P.V: Nghị quyết số 26-NQ/TW được ban hành sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW. Theo ông, điểm khác biệt có ý nghĩa chiến lược nhất của Nghị quyết số 26 là gì? Có thể hiểu đây là một bước chuyển mới trong tư duy phát triển du lịch Việt Nam hay không và bước chuyển đó sẽ đặt ngành Du lịch trước những yêu cầu nào trong kỷ nguyên mới?

- TS. Nguyễn Anh Tuấn: Theo tôi, điểm khác biệt có ý nghĩa chiến lược nhất của Nghị quyết số 26 là đặt du lịch Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và tính bền vững. Nếu Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tạo nền tảng để khẳng định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, thì Nghị quyết số 26 đặt ra yêu cầu phải làm cho du lịch thực sự trở thành một động lực phát triển trong kỷ nguyên mới.

Đây không chỉ là sự tiếp nối, mà là một bước chuyển về tư duy. Du lịch không thể phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên sẵn có, lượng khách và tăng trưởng quy mô. Ngành Du lịch phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị điểm đến, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, liên kết vùng và khả năng tạo giá trị cho nền kinh tế, cộng đồng và hình ảnh quốc gia.

Nghị quyết đặt ra những mục tiêu cao, đồng thời yêu cầu tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực, liên kết và tổ chức thực hiện. Nếu phải lựa chọn những việc cần ưu tiên trước tiên để tạo ra chuyển động thực chất, theo ông, đâu là những đột phá quan trọng nhất?

- Tôi cho rằng, có ba đột phá cần ưu tiên. Thứ nhất là đột phá về thể chế. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, nhưng nhiều chính sách liên quan đến du lịch vẫn còn phân tán ở các lĩnh vực khác nhau như đất đai, đầu tư, giao thông, môi trường, văn hóa, xuất nhập cảnh… Nếu không tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, doanh nghiệp khó đầu tư dài hạn và địa phương khó tổ chức phát triển đồng bộ.

Thứ hai là đột phá về sản phẩm và thị trường. Việt Nam cần chuyển từ khai thác tài nguyên sang tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, có bản sắc hơn và có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn.

Thứ ba là đột phá về tổ chức thực hiện. Chủ trương đúng phải đi kèm trách nhiệm rõ ràng, cơ chế phối hợp rõ ràng và nguồn lực rõ ràng. Nếu không xác định được ai làm, làm bằng nguồn lực nào, giám sát ra sao, thì Nghị quyết rất khó tạo chuyển động thực chất.

Một điểm mới của Nghị quyết số 26 là đặt du lịch trong hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, có sự liên kết và cộng hưởng với nhiều ngành, lĩnh vực. Theo ông, tư duy này cần được cụ thể hóa như thế nào trong thực tế để không chỉ dừng ở những khẩu hiệu về “liên ngành”, “liên vùng”? Ai sẽ đóng vai trò tổ chức, điều phối và kết nối các nguồn lực trong một hệ sinh thái phát triển du lịch?

- Muốn liên ngành, liên vùng không dừng ở khẩu hiệu, trước hết cần phải xác định rõ phát triển du lịch không phải là việc riêng của ngành Du lịch. Một sản phẩm du lịch tốt cần giao thông thuận tiện, hạ tầng đồng bộ, môi trường sạch, văn hóa được bảo tồn, dịch vụ thương mại phát triển, nông nghiệp và làng nghề tham gia vào chuỗi giá trị. Vì vậy, phát triển du lịch phải được thiết kế như một hệ sinh thái kinh tế dịch vụ tổng hợp.

Trong thực tế, cần có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp quốc gia, vùng và địa phương. Cơ chế này phải gắn quy hoạch, đầu tư, xúc tiến, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực và quản lý điểm đến thành một chỉnh thể thống nhất. Vai trò điều phối thuộc về Nhà nước; vai trò đầu tư, đổi mới sản phẩm thuộc về doanh nghiệp; vai trò gìn giữ bản sắc và tham gia trực tiếp thuộc về cộng đồng; còn các hiệp hội, chuyên gia, nhà nghiên cứu cần làm cầu nối, tư vấn và phản biện chính sách.

Nghị quyết số 26 cho phép thực hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay để tạo đột phá cho phát triển du lịch, trong trường hợp chưa có quy định pháp luật hoặc cần áp dụng khác với quy định hiện hành, đi kèm cơ chế kiểm soát, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm. Theo ông, chủ trương này có ý nghĩa như thế nào trong việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” lâu nay của ngành Du lịch? Nếu được lựa chọn, ông sẽ đề xuất thí điểm những vấn đề nào trước để tạo ra những chuyển động thực chất và có khả năng nhân rộng?

- Tôi xin nhấn mạnh đây là một chủ trương rất quan trọng, vì nhiều điểm nghẽn của du lịch hiện nay không thể tháo gỡ nếu chỉ chờ sửa đổi đồng bộ tất cả các quy định pháp luật. Cơ chế thí điểm cho phép chúng ta xử lý những vấn đề cấp bách, kiểm nghiệm mô hình mới trong thực tiễn, nhưng vẫn có kiểm soát, giám sát và hậu kiểm.

Theo tôi, có thể ưu tiên thí điểm ở một số lĩnh vực có khả năng tạo chuyển động nhanh. Thứ nhất là kinh tế ban đêm và các không gian dịch vụ du lịch mới tại những trung tâm du lịch lớn. Thứ hai là cơ chế phát triển du lịch xanh, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn tài nguyên và chia sẻ lợi ích cho người dân. Thứ ba là chuyển đổi số trong quản lý điểm đến, dữ liệu du lịch và xúc tiến thị trường. Đây là những lĩnh vực nếu làm tốt sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và có khả năng nhân rộng.

Nghị quyết số 26 xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các cấp, các ngành và địa phương. Theo ông, cần thiết kế một cơ chế phối hợp như thế nào để các chủ thể này thực sự cùng tham gia vào quá trình phát triển, cùng hưởng lợi và cùng có trách nhiệm? Đâu là những “khoảng trống” trong mối liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng mà chúng ta cần sớm khắc phục?

- Cơ chế phối hợp phải bắt đầu từ việc phân định rõ vai trò của từng chủ thể. Nhà nước kiến tạo thể chế, quy hoạch, hạ tầng và môi trường phát triển. Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong trong đầu tư, đổi mới sản phẩm, nâng chất lượng dịch vụ và mở rộng thị trường. Người dân là chủ thể giữ gìn tài nguyên, văn hóa bản địa và trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị du lịch. Địa phương là nơi tổ chức thực thi và quản trị điểm đến.

Khoảng trống hiện nay là liên kết giữa các chủ thể còn lỏng lẻo, lợi ích chưa được chia sẻ hợp lý và tiếng nói của cộng đồng chưa được đặt đúng vị trí. Vì vậy, cần cơ chế đối thoại thường xuyên giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân; cần mô hình chia sẻ lợi ích rõ ràng; đồng thời cần nâng cao năng lực cho cộng đồng để họ không chỉ “tham gia” mà thực sự trở thành một phần của kinh tế du lịch địa phương.

Theo ông, sau 5 năm hay 10 năm, chúng ta nên nhìn vào những dấu hiệu nào để biết Nghị quyết số 26 thực sự đã đi vào cuộc sống và tạo ra một bước phát triển mới cho du lịch Việt Nam? Ngoài những chỉ tiêu về lượng khách và doanh thu, đâu là những thước đo quan trọng hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, đời sống của người dân và vị thế của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới?

- Theo tôi, không nên chỉ nhìn vào lượng khách và doanh thu. Đó là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa đủ để đánh giá chất lượng phát triển. Sau 5 năm hay 10 năm, chúng ta cần nhìn vào những thước đo sâu hơn như: Mức chi tiêu bình quân của khách, thời gian lưu trú, tỷ lệ khách quay lại, năng lực cạnh tranh của điểm đến, chất lượng môi trường du lịch và chuyển đổi xanh, mức độ tham gia và hưởng lợi của người dân, cũng như sức mạnh thương hiệu du lịch Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Những chỉ số, tiêu chí rất quan trọng khác là doanh nghiệp có mạnh dạn đầu tư dài hạn hơn không, sản phẩm du lịch có đa dạng và khác biệt hơn không, địa phương có quản trị điểm đến chuyên nghiệp hơn không và người dân có thực sự được hưởng lợi từ phát triển du lịch hay không. Khi du lịch tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, bảo tồn tốt hơn tài nguyên văn hóa, tài nguyên tự nhiên, nâng cao đời sống cộng đồng và cải thiện vị thế quốc gia thì khi đó có thể khẳng định Nghị quyết đã đi vào cuộc sống.