Cù Lao Chàm: Từ “săn” cua đá đến khai thác văn minh
VHO - Từng đứng trước nguy cơ cạn kiệt vì bị khai thác ồ ạt, cua đá Cù Lao Chàm được quản lý bằng mùa vụ, kích thước, hạn ngạch và nhãn sinh thái. Hành trình bảo tồn loài cua cho thấy cộng đồng thay đổi cách ứng xử với tài nguyên ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An.

Giữ cua đá từ cách khai thác có trách nhiệm
Ông Lê Ngọc Thảo, Trưởng ban Thư ký Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An cho biết, trước những năm 2000, Cù Lao Chàm có khoảng 2.400 cư dân trong 600 nóc nhà, 85% hộ sống bằng nghề đánh bắt thủy sản nhỏ lẻ, ven bờ. Tài nguyên trên rừng, dưới biển khi ấy còn bị khai thác thiếu kiểm soát.
Tiến sĩ Marianne Damholdt Bergin, Đại học Aarhus, Đan Mạch, là người đầu tiên nghiên cứu tổng thể về sinh học, sinh thái và sinh sản cua đá tại Cù Lao Chàm. Từ 2003-2006, nhiều kết quả được đưa vào thực tiễn quản lý.
Cua đá sống trong hang hốc, gần các con suối trên rừng, ăn lá, trái cây và côn trùng. Loài này khoảng 15-16 năm mới trưởng thành với kích thước mai khoảng 7cm. Mùa sinh sản từ tháng 8-12, mỗi cua cái ôm khoảng 30.000-40.000 ấu trùng, men theo suối xuống biển để thả vào nước. Sau 7-10 ngày, cua con ngược dòng trở về rừng.
Ngày 26.5.2009, Cù Lao Chàm - Hội An được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Khách đến đảo tăng, kéo theo nhu cầu thực phẩm. Tình trạng “người người, nhà nhà bắt cua” đã đẩy cua đá đến nguy cơ cạn kiệt. Thành phố Hội An sau đó ban hành Chỉ thị số 09/2009, cấm khai thác, mua bán, tiêu thụ cua đá. Từ kết quả nghiên cứu và thực tiễn, mô hình “cộng đồng khai thác và bảo vệ cua đá Cù Lao Chàm” được thí điểm từ năm 2010, từng bước hình thành cách thức được gọi là “Khai thác văn minh cua đá Cù Lao Chàm”.
Theo Quy chế quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm do UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành, cua đá chỉ được khai thác khi có kích thước mai từ 7cm trở lên, từ ngày 1.3 đến 31.7 hằng năm; không khai thác tại các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái. Khu vực được phép khai thác giới hạn trong vùng triều, ghềnh đá thuộc Phân khu dịch vụ - hành chính.
Trước khi xuất bán, cua phải được cân, kiểm tra kích thước và dán nhãn sinh thái; cá thể không đạt yêu cầu phải thả lại tự nhiên. Chỉ thành viên tổ cộng đồng được phép bắt cua; sản lượng hằng năm do tổ quyết định với tư vấn của nhà khoa học và giám sát của chính quyền. Địa phương đã thành lập hợp tác xã với hơn 40 thành viên, mỗi năm chỉ khai thác tối đa 500kg cua đá, đồng thời ổn định giá, xây dựng nhãn hiệu. Hòn Dài còn được cấm khai thác trong ba năm để quần thể phục hồi.
Nhờ cách quản lý này, khoảng 75% cua đá trong tự nhiên được bảo tồn; quần thể được duy trì, có dấu hiệu phục hồi. Tuy vậy, áp lực thị trường và khai thác trái phép vẫn là nguy cơ cần kiểm soát.

Khi đặc sản mang theo câu chuyện bảo tồn
Trước những năm 2000, cua đá được mua làm quà với giá khoảng 2.000 đồng/ con. Đến năm 2019, giá niêm yết tại tổ cộng đồng là 800.000 đồng/kg, tương ứng khoảng 200.000 đồng/con, tăng khoảng 100 lần. Nhưng giá trị cộng đồng hướng tới không dừng ở một món đặc sản.
Ông Trần Công, thành viên tổ cộng đồng chia sẻ, người dân nhận thức cua đá là sản vật của vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển, nơi UNESCO và cộng đồng quốc tế ghi nhận giá trị nổi trội về tài nguyên. Vì vậy, sinh kế phải đi cùng bảo tồn nguồn lợi cho thế hệ sau. “Chúng ta không bán cua đá, chúng ta bán câu chuyện cộng đồng khai thác văn minh cua đá” - câu slogan ấy định vị giá trị của đặc sản Cù Lao Chàm.
Chiếc nhãn sinh thái vì thế không đơn thuần xác nhận một con cua đủ tiêu chuẩn đưa ra thị trường. Phía sau là quy trình về người được khai thác, mùa vụ, kích thước, khu vực, hạn ngạch và trách nhiệm với nguồn lợi. Xa hơn, cua đá được định hướng gắn với nhãn hiệu Khu sinh quyển, nhãn hiệu cộng đồng, hướng tới sản phẩm du lịch bền vững.
Với du khách, thưởng thức cua đá còn là dịp hiểu thêm câu chuyện sinh thái, tập quán khai thác và nỗ lực bảo tồn của người dân. Chính câu chuyện phía sau sản vật làm nên phần giá trị cộng thêm cho cua đá Cù Lao Chàm.
“Sinh vật chỉ thị” của rừng và biển
Giá trị của cua đá còn vượt ra ngoài sinh kế và du lịch. Rừng Cù Lao Chàm có khoảng 200 loài cây dược liệu, thuốc nam quý hiếm; nhiều loại lá rừng là thức ăn của cua. Đặc biệt, loài này sống trên rừng nhưng đến mùa sinh sản lại xuống biển, trở thành “cầu nối” giữa hai hệ sinh thái.
Sự phân bố các ổ sinh thái cua đá có thể phản ánh tình trạng nguồn nước và thảm thực vật. Số lượng, kích thước, trọng lượng trung bình giúp nhận định chất lượng rừng và tác động của con người; tỷ lệ đực - cái phản ánh điều kiện môi trường và biến đổi khí hậu. Thời điểm, đường di cư sinh sản từ rừng xuống biển cũng cho thấy mức độ liên kết giữa hai hệ sinh thái. Với những đặc tính đó, cua đá được xem là “sinh vật chỉ thị” cho chất lượng rừng, nguồn nước và những biến đổi của sinh cảnh từ rừng xuống biển tại Cù Lao Chàm.
Theo Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm, điểm then chốt của mô hình đồng quản lý là nâng cao vai trò, gắn trách nhiệm của người dân với tài nguyên. Cơ chế điều phối có sự tham gia của bốn lực lượng: quản lý, khoa học, doanh nghiệp và người dân. Qua đó, cộng đồng trực tiếp quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên và hưởng lợi từ khai thác bền vững.
Từ chỗ từng bị khai thác đến mức phải ban hành lệnh cấm, cua đá nay được quản lý bằng mùa vụ, kích thước, hạn ngạch và nhãn sinh thái. Câu chuyện vượt ra ngoài giá trị đặc sản xứ đảo, cho thấy cách cộng đồng ứng xử với tài nguyên: Khai thác có giới hạn, tạo sinh kế và dành thời gian cho tự nhiên phục hồi.

RSS