Bộ hành xuyên núi hơn ba tháng để dự Đại hội:

“Mạch máu” xuyên rừng

LÊ VĂN CHƯƠNG

VHO - Câu chuyện của những người lính đi trong đoàn Chiến sĩ thi đua đã phác họa lại những điều đáng kinh ngạc về hệ thống giao thông, liên lạc, các binh trạm rải trên đường Trường Sơn. Khi có một giao liên bị địch bắt, hoặc có người từ căn cứ ra chiêu hồi, toàn bộ khu vực đó đều bị hủy bỏ và tái lập ở một ngọn núi khác. Tại Củ Chi, Tây Ninh, dù hàng trăm người tổ chức sự kiện lớn, nhưng hầu như phía địch không nắm được gì.

“Mạch máu” xuyên rừng - ảnh 1
Bà Nguyễn Thị Cẩn, Trạm phó Trạm 9 cô

 Địa thế mỏ vẹt

Năm 1967, trước khi đoàn Chiến sĩ thi đua lên đường tới Củ Chi, các chiến sĩ được thông báo: Củ Chi nằm sát nách Sài Gòn, nhưng là vùng đất thép kiên cường. Đến năm 1969, khi lên đường vào Tây Ninh, họ lại được cho biết đây là vùng an toàn mỏ vẹt.

Tại căn cứ, anh Sáu Phong, tức Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Thường vụ, Thường trực Đoàn ủy liên cơ dân chính Đảng tại Trung ương Cục, sau này là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, đang phát động học tập tấm gương nữ sinh Huỳnh Lan Khanh, học sinh Trường Gia Long, Sài Gòn, người đã anh dũng hy sinh trong lúc tải lương thực cho Trung ương Cục.

Trong chiến tranh Việt Nam, có một vùng đất được báo chí nước ngoài gọi là Parrot’s Beak - Mỏ Vẹt: Tỉnh Svay Rieng của Campuchia. Nhìn trên bản đồ hình chữ S, Svay Rieng như một mũi đất loi hẳn sang phía Việt Nam, giáp các vùng Đức Hòa, Đức Huệ, Trảng Bàng và rìa Đồng Tháp Mười. Căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi ấy đặt tại khu vực xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi ấy được chia thành 6B: Khối nhân sĩ là B1; B2 là văn phòng và bộ phận nghiên cứu; Trung đội bảo vệ là B3; B4 chuyên sản xuất tự túc; B5 là tòa soạn báo Giải Phóng; B6 phụ trách quân trang, quân dụng và xay lúa. Toàn cơ quan mang mật danh C39, hòm thư 1035-B. Cựu chiến binh Đặng Văn Lái kể, suốt 8 ngày tổ chức Đại hội, mọi việc hầu như được giữ bí mật tuyệt đối, không có báo động, bếp ăn vẫn đỏ lửa, các chị vẫn nấu những món rau rừng trong chiếc chảo Liên Xô.

Khi đoàn Chiến sĩ thi đua tới Tây Ninh, mọi người mới biết trong lực lượng đang có mặt tại đây có một số Việt kiều Campuchia cũng là những chiến sĩ rất tích cực. Như anh Ba Minh, quê ở thủ đô Pnôm Pênh; chị Tư Rạnh, quê Củ Chi, người sàng gạo giỏi nhất; anh Phúc, một Việt kiều Campuchia tại căn cứ vừa hy sinh...

Trong tư liệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, các kỳ đại hội được ghi bằng mật danh “đám giỗ” để giữ bí mật. “Đám giỗ” thứ nhất, tức Đại hội lần thứ nhất, tổ chức tại bàu Bà Điếc, giữa xóm Lò Gò, từ ngày 16.2.1963; “Đám giỗ” thứ hai tại Chà Ruộc, ngày 1.11.1964; “Đám giỗ” thứ ba tại Suối Chò, Cây Đa, nơi còn dày đặc hố bom sau trận càn Junction City, từ ngày 15 đến 20.8.1967; “Đám giỗ” thứ tư tại Tà Nốt - Tà Đạt, từ ngày 6.6.1969. Đại hội Chiến sĩ thi đua miền Nam có khi được tổ chức trước hoặc sau thời điểm diễn ra những “đám giỗ” ấy.

“Mạch máu” xuyên rừng - ảnh 2
Bà Dương Thị Tuyết Mai, chiến sĩ ở E240

Cắt ngọn, vùi gốc

Năm 1969, khi các đoàn Chiến sĩ thi đua đi qua các trạm giao liên, rau xanh trở nên khan hiếm. Có lúc, một lon gạo phải nấu cháo cho 9 người ăn, độn thêm củ mì, môn thục, ranh ranh, tàu bay… Bà Dương Thị Tuyết Mai, chiến sĩ E240, Cục Hậu cần Quân khu 5 đóng tại khu vực Dông Tranh, Sơn Hà kể lại, thời ấy, ông Trần Kiên, Phó Tư lệnh Quân khu 5, mỗi khi đi đường đều dừng lại bên từng bụi rau, từng khóm môn thục và ra lệnh cho chiến sĩ trồng lại hết. Trước đó, khi hành quân, nhiều người cứ thấy rau là tách khỏi hàng, nhanh tay nhổ cây, bứt ngọn rồi nhét vào ba lô, mang đến trạm giao liên nấu ăn.

 Phía sau những năm tháng giao liên

Bà Nguyễn Thị Cẩn, nguyên Phó Trạm 9 cô, hiện sống tại 131/12 Trương Định, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi, tâm sự: Ít người biết phía sau vinh quang của những người từng làm giao liên là mất mát kéo dài đến tận hôm nay. Nhiều người phải chống chọi với bệnh ung thư, vô sinh, khó lập gia đình... Bà Cẩn từng công tác tại Đại học Đà Nẵng, Đại học Phạm Văn Đồng. Sau khi nghỉ hưu, bà vẫn lặng lẽ sống chung với bệnh hiểm nghèo.

“Ai cũng bứng gốc thì người sau lấy gì mà ăn. Tinh thần đảng viên là phải tiết kiệm để đánh giặc”, ông Trần Kiên tỏ ra gay gắt trong các cuộc họp.

Khi xuống nhà bếp ở binh trạm, thấy một số củ mì bị chặt bỏ rễ, bỏ gốc, ông bắt mang những đoạn ấy đi luộc rồi đưa ra ăn. Sau đó, ông mời đội trưởng sản xuất lên nhắc nhở, kiểm điểm, vì nếu ai cũng ăn theo cách ấy thì đoàn đi sau lấy gì mà ăn.

Năm 1969 là giai đoạn cực kỳ khó khăn. Thiếu gạo, thiếu muối, các tuyến tiếp tế từ miền xuôi lên đều bị chặn. Trực thăng rà trên những cánh rừng; hễ phát hiện rẫy củ mì của quân giải phóng thì chúng rải chất độc hóa học hoặc đổ quân xuống đốt phá. Các giao liên phải luồn khắp các điểm dốc Ngành Ngạnh, Nóc Ông Hai, Bạc Liên, dốc Thò Lò, Nước Biếc… để tìm rau xanh.

Khu vực gần đơn vị E240 từng có người không chịu nổi gian khổ, bỏ trốn, ra chiêu hồi. Tin vừa lan ra, các đơn vị như đứng trước một trận “đại hỏa hoạn”. Mọi người cuốn vội chiếc võng nhét vào ba lô, khoác súng, hành quân sang dãy núi khác, có khi đi xuyên đêm đến mờ sáng mới dừng lại. Nơi ở mới nằm dưới cánh rừng rong rêu phủ kín thân cây, nhìn lên không thấy mặt trời. Cứ có người bị bắt hoặc ra đầu thú, bóng người ở nơi ấy lập tức biến mất.

Mỗi lần chuyển chỗ, tất cả lại làm từ đầu: Đào hầm chữ A, dựng nhà tranh, trồng rẫy củ mì, mở tuyến đường mới, tìm nơi có rau. Sau những lần như thế, các đơn vị gặp nhau hầu như không giao tiếp, chỉ nhìn rồi im lặng, vì đơn vị nào cũng phải giữ bí mật. Trên đầu, tiếng loa từ máy bay Cessna O-1 Bird Dog vẫn văng vẳng, kêu gọi quân giải phóng ra chiêu hồi để được khoan hồng.

Binh trạm 9 cô

Trong số rất nhiều binh trạm mà đoàn Chiến sĩ thi đua dừng chân, Trạm giao liên số 10, thuộc Trung đoàn 240, Cục Hậu cần Quân khu 5, là một điểm dừng đặc biệt. Trạm gồm 9 nữ thanh niên quê Quảng Ngãi, do chị Lê Thị Bích Ngà làm Trạm trưởng, chị Nguyễn Thị Cẩn làm Trạm phó. Chính vì vậy, những người từng đi qua cung đường này quen gọi nơi đây bằng cái tên thân thuộc: Trạm 9 cô. Trạm chốt giữ trên cung đường địch thường xuyên đánh phá ác liệt, có lúc đóng ở Sơn Tân, khi lại chuyển sang Sơn Mùa, Đăk Rỉa, tùy tình hình chiến sự và yêu cầu nhiệm vụ.

Những ngày đông khách qua lại, trạm thường rất nhộn nhịp. Đoàn từ miền Bắc mang theo gạo trắng, đổ vào chảo nấu ăn. Đoàn miền Nam cũng có gạo trắng, thường là cán bộ ra miền Bắc họp. Còn các đoàn ở những tỉnh miền Trung thì hầu hết chỉ có gạo đen trộn với bắp răng trâu, củ mì. Bắp răng trâu cứng như những viên sỏi, khó nuốt nhưng no lâu.

Đoàn Chiến sĩ thi đua năm 1969 khi qua trạm giao liên núi Tròn, giữa trưa nắng, được các em giao liên báo tin mừng vừa thu hoạch bí rợ. Bí được bỏ vào chảo Liên Xô nấu nhừ, rồi chia ra gô cho mỗi người vừa ăn, vừa mang theo dọc đường.

Đến chiều tối, đoàn xuống chân núi. Ở đó có binh trạm chân núi Tròn nằm cạnh bờ sông Re. Các em giao liên ra suối bắt cá niên, ốc đá. Cây chuối rừng được mang về, băm nhỏ, đổ vào chảo cá niên đang sôi; bên cạnh là món ốc đá dưới suối cũng được nấu trong chiếc chảo Liên Xô. Chị em nói là chiêu đãi đoàn khách A đi miền Nam dự Chiến sĩ thi đua. Và đó là lần cuối cùng mọi người gặp các em ở binh trạm bên sông Re.

Mùa đông năm 1969, một vụ sạt lở núi kinh hoàng xảy ra. Đất đá từ trên cao lao xuống, nổ ầm ầm như bom. Vệt núi sạt kéo dài hàng chục cây số, vùi lấp toàn bộ các cô gái ở binh trạm. Khi đoàn Chiến sĩ thi đua trở về, lội qua vết sạt ấy, mọi người cúi đầu tưởng niệm những nữ giao liên đã nằm lại bên núi rừng, nguyện cầu cho linh hồn các cô được yên nghỉ, siêu thoát.