Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ

GS.TS LÃ NHÂM THÌN, nguyên Trưởng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

VHO - Hành trình 75 năm xây dựng và phát triển của Khoa Ngữ văn với truyền thống lớn cùng những đóng góp lớn là hành trình mở ra, đi lên của một con đường lớn và dựng xây những tòa lầu rạng rỡ.

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 1
GS.TS.NGƯT Lã Nhâm Thìn, cựu sinh viên Khoá 22 (1972 - 1976), nguyên Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn (2004 - 2009), nguyên Bí thư Đảng uỷ Khoa (2007 - 2011)

1. Con đường lớn từ truyền thống đến hiện tại

Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển, khoa Ngữ văn đã có bề dày truyền thống lớn: thương yêu đoàn kết, tôn sư trọng đạo, tận tâm với nghề, gắn nhà trường với xã hội.

Cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Ngữ văn được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951. Ra đời trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngay từ những ngày đầu, Khoa Ngữ văn đã thể hiện truyền thống thương yêu, đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để dạy tốt, học tốt. Các sinh viên khóa đầu tiên của Khoa lên lớp học trong một “giảng đường” là một căn nhà ba gian bằng tranh tre nứa lá, với bàn học cá nhân là chiếc bàn gỗ gấp, mặt bàn chỉ rộng chừng hai tờ giấy khổ A4, có thể đeo khi đến lớp. Mỗi sinh viên tự tạo một chiếc đèn dầu hỏa, có khi từ một lọ đựng thuốc bột penixilin cũ, để học vào buổi tối. Nghèo về vật chất nhưng giàu tình thương yêu đoàn kết, giàu nhiệt huyết, quyết tâm, lại được thụ giáo, thụ nghiệp từ những giáo sư nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Tửu…. lớp sinh viên khóa đầu tiên ấy, sau này nhiều người đã trở thành nhà giáo, nhà khoa học thành danh như GS Đặng Thanh Lê, GS Phan Trọng Luận, GS Nguyễn Đình Chú, PGS Nguyễn Xuân Nam… Truyền thống thương yêu đoàn kết từ những ngày đầu thành lập Khoa tiếp tục được phát huy qua những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi sơ tán lên xã Phúc Lương, Đại Từ, Thái Nguyên, lúc về làng Quần Ngọc, Trung Hòa, Yên Mỹ, Hưng Yên. Dù giảng đường lại là nhà tranh, tường đất, thư viện là một ngôi chùa nhỏ ở địa phương thì tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa nhà trường với nhân dân càng thêm sâu đậm. Những tháng năm gian khó, thiếu thốn của thời kì bao cấp, thầy trò khoa Ngữ văn vẫn “đậm đà lòng son”, nhường nhau những món hàng phân phối: một mảnh vải may quần áo, một chiếc lốp xe đạp, sẻ chia từng lạng đường, lạng thịt…Trong bất cứ hoàn cảnh nào khoa Ngữ văn cũng trọng sự đoàn kết, với phương châm lấy khoa làm trọng. Đoàn kết giữa những người trong Khoa, đoàn kết giữa thế hệ trước và thế hệ sau, giữa thầy và trò, giữa thầy với thầy, trò với trò. Những bất hòa cá nhân, nếu có, cũng đều được giải quyết trên tinh thần lấy khoa làm trọng, tất cả vì việc chung. Nhờ thế mà, nói theo cách nói của một giáo sư: Khoa Ngữ văn luôn là một khoảng trời trong xanh, yên bình.

  Tôn sư trọng đạo là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, là bảo vật của Khoa Ngữ văn. Tôn sư là tôn quý thầy, là đạo lí của trò đối với thầy “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Trọng đạo trước hết là trọng đạo học, trọng nghề dạy học. Có được truyền thống tôn sư trọng đạo, trước hết là bởi Khoa Ngữ văn luôn có những người thầy là tấm gương mẫu mực cả về nhân cách và tài năng. Đó là những bậc sư biểu của thời kì lâp Khoa: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Tửu, Lê Trí Viễn…; bậc sư biểu của thời kì Khoa Ngữ văn xây dựng và phát triển: Bùi Văn Nguyên, Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đình Chú, Trương Chính, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Hữu Châu, Bùi Văn Ba, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử… Các thế hệ sinh viên khoa Ngữ văn, ở thời kì nào cũng tìm thấy những người thầy là những tấm gương để mình noi theo, học hỏi. Vun đắp, phát huy truyền thống tôn sư, trong đạo, Khoa Ngữ văn luôn giáo dục thầy và trò ý thức rèn luyện để xứng đáng với tư cách của người thầy giáo.

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 2
Thế hệ " Xếp bút nghiên lên đường ra trận" - Lã Nhâm Thìn (hàng trước, bên trái) cùng các đồng đội, đều là sinh viên Khoa Ngữ văn. Ảnh tư liệu của tác giả

Gắn bó với nghề cũng là một nét đẹp truyền thống của Khoa Ngữ văn. Người Khoa Văn gắn bó với nghề giáo, với nghiệp văn. Càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu, và ngược lại yêu nghề để càng thêm yêu người. Nghề dạy học là nghề cao quý, nhận thức này đâu phải lúc nào cũng được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Giữa bao khó khăn, gian khổ, giữa bao sự cám dỗ của những ngành nghề mà “danh’ đi kèm với “giá”, nhiều thầy cô Khoa Ngữ văn vẫn không thay nghề đổi nghiệp. Với một khoa ở trường đại học sư phạm thì gắn bó với nghề giáo, nghiệp văn là gắn bó cả trong giáo dục đại học và giáo dục phổ thông. Chính vì vậy mà nhiều thầy cô của Khoa Ngữ văn từng đảm nhận trọng trách là Tổng chủ biên, Chủ biên những bộ sách giáo khoa, như các GS Lê Trí Viễn, Nguyễn Hải Hà, Phan Trọng Luận, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Lê A, Bùi Minh Toán, Trần Đăng Suyền, Lã Nhâm Thìn. Trong sự nghiệp trồng người, nhiều thầy cô được Nhà nước trao tặng những danh hiệu cao quý như Nhà giáo nhân dân: Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Phan Trọng Luận, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Nguyễn Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Ngọc San, Trần Đình Sử, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Văn Long, Trần Đăng Suyền, Vũ Anh Tuấn; Nhà giáo ưu tú: Bùi Văn Nguyên, Trương Chính, Đặng Thanh Lê, Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang Ban, Đặng Anh Đào, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Đăng Na, Lê A, Lã Nhâm Thìn, Phạm Thu Yến, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Bình, Trần Mạnh Tiến, Đỗ Việt Hùng… 

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 3
Thầy và trò Khoa Ngữ văn những năm chiến tranh. Ảnh tư liệu

Không chỉ gắn bó với nghề, với ngành giáo dục, Khoa Ngữ văn còn gắn bó với đời sống xã hội, gắn bó với sự nghiệp chung của đất nước. Từ giảng đường ra chiến trường và từ chiến trường về lại giảng đường, khi cầm bút, lúc cầm súng là lẽ sống cao đẹp của nhiều cán bộ giảng dạy và sinh viên khoa Ngữ văn trong các cuộc chiến tranh bảo vệ và giải phóng đất nước. Những anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp trở thành giảng viên Khoa Ngữ văn: Hoàng Văn Thung, Lê Biên, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Xuân Nam…Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Khoa Ngữ văn tham gia phục vụ chiến đấu trên khắp các nẻo đường miền Bắc: Quảng Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bắc Giang…. Hai đại đội tự vệ gồm thầy trò Khoa Ngữ văn lập Tổ trực chiến và Đài quan sát(được mệnh danh là Con mắt phía tây thành phố) trên tầng thượng nhà A7, do sinh viên phụ trách, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Có những sinh viên vừa tốt nghiệp đã lên đường ra chiến trường, trở thành những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vỹ. Nhiều cán bộ giảng dạy, sinh viên Khoa Ngữ văn khoác trên mình bộ áo lính trong những năm kháng chiến chống Mỹ, khi trở về mái trường lại tiếp tục nghề thầy giáo, có những đóng góp lớn cho Khoa, cho Trường, cho ngành giáo dục: Lê Tiến Sơn, Trần Quang Minh, Nguyễn Tiến Mâu, Nguyễn Bình Sơn, Phùng Ngọc Kiếm, Trần Lê Bảo, Trần Đăng Suyền, Lã Nhâm Thìn… Trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, sinh viên Khoa ngữ văn tham gia xây dựng phòng tuyến sông Cầu, đem tiếng hát lời thơ lên chiến hào biên giới, động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có những cán bộ giảng dạy, những sinh viên đã hi sinh nơi chiến trường như thầy Lê Đăng Bảng, các anh Võ Tề, Vũ Đình Văn, Hoàng Minh Thương, Lê Như Ý, Trương Dương Thiện, Trần Trọng Quý, Thái Văn Thượng, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Văn Dư, Nguyễn Văn Long…

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 4
Năm 2006, lãnh đạo Khoa cùng các cựu sinh viên khoá 1 về thăm nền lớp học đầu tiên của Khoa Văn ở xã Thiệu Toán, huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá. Từ trái qua phải: PGS.TS Nguyễn Quang Ninh, GS.TS.NGƯT Lã Nhâm Thìn (Chủ nhiệm Khoa), PGS Nguyễn Xuân Nam, GS.NGND Phan Trọng Luận, GS.NGND Nguyễn Đình Chú, GS Đặng Thanh Lê. Ảnh tư liệu.

Gắn bó với đời sống xã hội, với đất nước, phong trào thiện nguyện đã trở thành phong trào truyền thống của khoa Ngữ Văn. Các hoạt động thiện nguyện diễn ra thường xuyên, đều đặn: tặng quà cho các cháu ở Hòa Bình (Năm 2014), ở Phúc Lương, Đại Từ, Thái nguyên (năm 2016).  Hỗ trợ thiên tai tại huyện Văn Trấn, Yên Bái, ủng hộ sách vở, đồ dùng bán trú cho trường phổ thông dân tộc nội trú Y Tý, Bát Xát, Lào Cai (năm 2017), tặng quà hộ nghèo ở Đại từ Thaí Nguyên (năm 2018). Phong trào thiện nguyện của Khoa Ngữ văn ngày càng có sức lan tỏa: ủng hộ chăn, đệm, chiếu cho trường THPT Simacai (Lào Cai); ủng hộ sách xây dựng thư viện trường THDT bán trú Nậm Khánh (Bắc Hà, Lào Cai); ủng hộ sách, quần áo cho trường THCS Tả Phời (Lào Cai), ủng hộ quần áo, sách vở, lương thực, tiền mặt cho một xã nghèo ở Lạng Sơn; Ủng hộ sách xây dựng thư viện cộng đồng cho một địa phương ở Thuận Thành, Bắc Ninh, Dạy học tình nguyện (Làng trẻ SOS), Thanh niên xung kích – hiến máu nhân đạo; Tết yêu thương; Vì Trường Sa, v.v… 

Truyền thống có sức mạnh, có nội lực của truyền thống, là niềm tự hào, là ý thức “hổ phụ sinh hổ tử” của người Khoa Văn. 

2. Những tòa lầu rạng rỡ

Trên con đường lớn 75 năm Khoa Ngữ văn, những tòa lầu rạng rỡ đã được các thế hệ thầy trò của khoa kiến tạo, dựng xây, ngày càng cao đẹp.

2.1. Tòa lầu khoa học

Tòa lầu khoa học của Khoa Ngữ văn rạng rỡ với nguồn sáng tri thức của khoa học cơ bản và khoa học sư phạm.

Khoa Ngữ văn là một trung tâm đào tạo lớn đồng thời là một trung tâm nghiên cứu lớn về ngữ văn. Kết hợp giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học đã trở thành chiến lược phát triển của Khoa Ngữ văn trong 75 năm qua. 

Về đào tạo, Khoa Ngữ văn xứng đáng là chiếc nôi đầu tiên của ngành sư phạm Ngữ văn ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, giữ vai trò “máy cái” của ngành giáo dục, “đầu tàu” của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước. Ở Khoa Ngữ văn có đầy đủ các hệ đào tạo, các loại hình đào tạo: cử nhân sư phạm, cử nhân văn học, cử nhân chất lượng cao, cao học, nghiên cứu sinh; đào tạo theo hình thức chính quy, tại chức, từ xa; liên kết với các trường đại học trong nước (khoảng 20 trường) và ngoài nước (Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc..). Trong 75 năm qua, Khoa đã đào tạo khoảng 16.000 sinh viên chính quy, trên 5.300 sinh viên tại chức và từ xa, gần 3.850 thạc sĩ, 482 tiến sĩ.

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 5
Hội thảo khoa học quốc gia “Kí hiệu học: từ lí thuyết đến ứng dụng trong nghiên cứu và dạy học Ngữ văn” nhân kỉ niệm 65 năm thành lập Khoa (2016). Ảnh: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Ngữ văn là nơi xuất bản những bộ giáo trình đầu tiên ở bậc đại học về chuyên ngành Ngữ văn. Những bộ giáo trình đầu tiên này không những được sử dụng trong hệ thống các trường sư phạm mà còn được sử dụng ở những trung tâm nghiên cứu, những trường đại học có chuyên ngành ngữ văn. Để đáp ứng nhu cầu cải cách, đổi mới giáo dục qua từng thời kì, nhiều bộ giáo trình của Khoa đã được biên soạn và luôn có sự đổi mới cả về nội dung, về phương pháp. Các bộ giáo trình của Khoa cùng những tư liệu tham khảo đã phủ kín các chuyên ngành sâu: văn học dân gian, văn học Việt Nam trung đại, văn học Việt Nam hiện đại, văn học nước ngoài, lí luận văn học, ngôn ngữ, ngữ văn Hán Nôm. Khoa Ngữ văn còn tham gia biên soạn tài liệu và giảng dạy cho các bộ môn, các môn học khác như Cơ sở văn hóa Việt Nam, Việt Nam học, Nhập môn khoa học xã hội và nhân văn. 

Phương châm của Khoa Ngữ văn là Đại học sư phạm phải đi cùng, đi trước phổ thông. Chính vì vậy, cùng với công tác giảng dạy đại học, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa còn giữ vai trò chủ chốt trong việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Nhiều cán bộ giảng dạy của khoa là Tổng chủ biên, Chủ biên, tác giả sách giáo khoa các cấp qua các giai đoạn phát triển của sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo giáo viên, Khoa Ngữ văn còn góp phần đào tạo, phát triển nhiều tài năng nghệ thuật của đất nước: các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Tô Nhuận Vĩ, Tô Hoàng, nhà văn và họa sĩ Nghiêm Đa Văn, nhạc sĩ Dương Thụ, v.v…Nhiều người từ Khoa Ngữ văn trở thành các nhà lãnh đạo, quản lí, hoạt động xã hội, văn hóa.

Về khoa học, Khoa Ngữ văn là trung tâm nghiên cứu khoa học đầu ngành về ngữ văn với mỗi tổ chuyên môn là một mũi nhọn trong nghiên cứu khoa học. Khoa Ngữ văn có được vị trí, tầm vóc lớn trong nghiên cứu khoa học là công sức chung của mọi người mà trước hết là đội ngũ những chuyên gia, những nhà khoa học đầu ngành. Trong 70 năm phát triển, Khoa Ngữ văn thuộc số những trung tâm nghiên cứu và giảng dạy văn học có đội ngũ chuyên gia đông đảo nhất: 24 GS, 47 PGS và nhiều TS. Trong số đó, nhiều chuyên gia đầu ngành được cả nước biết đến, như về văn học Việt Nam: Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Na, Trần Đăng Suyền, Lã Nhâm Thìn, Vũ Anh Tuấn …; về văn học nước ngoài: Trương Chính, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Lương Duy Thứ, Lưu Đức Trung, Đặng Anh Đào, Trần Lê Bảo, Lê Huy Bắc…; về lí luận văn học: Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Văn Hạnh, Bùi Văn Ba, Trần Đình sử, La Khắc Hòa…; về ngôn ngữ: Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán…; về Lí luận và phương pháp dạy học: Phan Trọng Luận, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Thanh Hùng, Lê A…; về Hán Nôm: Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu… Hiện nay đang giảng dạy tại khoa có tổng số 48 CBGD, trong đó có 1 GS.TS, 16 PGS.TS, 22 TS.

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 6
Buổi bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Bộ môn, chuyên ngành Văn học nước ngoài (2025). Ảnh: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Ngữ văn là nơi mở hướng, mở đường trong nghiên cứu và giảng dạy văn học: phương pháp dạy học theo loại thể, loại hình học trong nghiên cứu văn học, thi pháp học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, nghiên cứu tác giả trong mối quan hệ nhà văn - tư tưởng - phong cách, v.v… Với vị trí là trung tâm lớn nhất nước về nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn, Khoa Ngữ văn đã tổ chức nhiều Hội nghị, Hội thảo khoa học với tầm cỡ quốc gia, quốc tế, để lại những mốc phát triển trên con đường nghiên cứu khoa học nước nhà: Hội thảo khoa học về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viêt; Hội thảo khoa học về văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy; Hội thảo khoa học về văn học so sánh; Hội thảo khoa học về tự sự học, về kí hiệu học, Hội thảo khoa học về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Hội thảo khoa học Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn trong các trường Sư phựm, v.v…

2.2. Tòa lầu nhân văn

Tòa lầu nhân văn của Khoa Ngữ văn luôn rạng rỡ tình người và những giá trị tinh thần cao đẹp. 

Thầy giáo là kĩ sư tâm hồn, người giảng dạy văn chương cũng là kĩ sư tâm hồn, quyện hòa hai điều ấy làm nên phẩm cách nhân văn ở người Khoa Văn. Nói về Khoa Ngữ văn là nói về một khoa với nghĩa tình lớn. Ở đó có nghĩa tình lớn giữa thầy và trò trong truyền thống tôn sư, trọng đạo, uống nước nhớ nguồn. Ở đó có nghĩa tình lớn giữa đồng môn, đồng nghiệp, giữa thầy trò Khoa Ngữ văn với đất nước, nhân dân. Thật xúc động khi sau hơn nửa thế kỉ, lúc trở lại thăm lớp học đầu tiên tại thôn Mao Xá, xã Thiệu Toán, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá, người dân vẫn còn nhận ra những sinh viên cách đây 55 năm về trước đã từng học tại ngôi đình làng. Và cũng thật xúc động khi biết tin cán bộ giảng dạy Khoa Văn về thăm lại nơi sơ tán, có người dân Quần Ngọc, Trung Hoà, Yên Mĩ, không ngủ được, dạy từ 3 giờ sáng, và rồi ngay từ sáng sớm bà con đã họp mặt ở đình làng để đón “người nhà” - theo như cách nói của người dân nơi đây. GS Nguyễn Đình Chú chia sẻ: sống với Khoa Văn là sống cùng những bậc sư phụ đúng với nghĩa người thầy, người cha. Nghĩ về Khoa Ngữ văn, nhà thơ Phạm Tiến Duật viết : "Khoa Văn luôn hiện lên trong tôi như toà lầu lộng lẫy nhất, uyên bác nhất, nhân văn nhất", nhà văn Ma Văn Kháng gọi Khoa Văn là "cái nôi sinh thành của tôi", GS Nguyễn Hải Hà từng thốt lên "tuyệt quá Khoa Văn"... những lời đẹp đẽ này không phải vì nó được nói ra từ người Khoa Văn, mà vì nghĩa tình lớn của Khoa Ngữ văn vốn thật là cao đẹp.

Có lẽ ít có một khoa nào ở trường đại học dành nhiều quỹ học bổng, giải thưởng cho sinh viên, nghiên cứu sinh như ở Khoa Ngữ văn. Quỹ học bổng Nguyễn Tuân (nguồn vốn ban đầu là toàn bộ số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của nhà văn Nguyễn Tuân) trao định kì theo khóa học cho những sinh viên xuất sắc. Giải thưởng Huỳnh Lý, trao cho thủ khoa của khóa. Giải thưởng Lê Trí Viễn (nguồn vốn ban đầu là số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Lê Trí Viễn) tặng cho những sinh viên nghèo vượt khó, học giỏi. Giải thưởng khuyến khích tài năng sinh viên (nguồn vốn ban đầu là số tiền của những cán bộ giảng dạy trong Khoa được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, được nhận học hàm GS, PGS) dành tặng cho những sinh viên có thành tích xuất trong học tập. Giải thưởng nghiên cứu sinh xuất sắc (nguồn vốn ban đầu là số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Bùi Văn Ba) dành tặng cho những nghiên cứu sinh bảo vệ luận án xuất sắc nhất trong năm. Giải thưởng Đỗ Hữu Châu (nguồn vốn ban đầu là số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Đỗ Hữu Châu), dành tặng cho sinh viên phấn đấu toàn diện, có thành tích trong học tập, công tác. Giải thưởng Nguyễn Ngọc San (nguồn vốn ban đầu là số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Nguyễn Ngọc San) dành tặng cho sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Hán Nôm. Các giải thưởng, học bổng của khoa Ngữ văn đều là kết quả, công sức của trí tuệ khoa học, tài năng văn chương và tấm lòng vì thế hệ trẻ. Trí tuệ, tài năng, tấm lòng làm nên nét đẹp nhân văn, sự giàu có của khoa Ngữ văn, sự giàu có không nhất thời mà lâu dài, bền vững. 

2.3. Tòa lầu rạng rỡ những phần thưởng và  những danh hiệu cao quý

Khoa ngữ văn đã được tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Các Tổ bộ môn, nhiều cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ Giáo dục và đào tạo.

Khoa Ngữ văn có 15 người được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 31 người được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Giải thưởng trong nghiên cứu khoa học của Khoa: 4 Giải thưởng Hồ Chí Minh, 11 giải thưởng Nhà nước.

Những thành tích nói trên là sự ghi nhận những đóng góp to lớn của Khoa Ngữ Văn trong 75 năm xây dựng và phát triển, đồng thời là nguồn động viên tó lớn đối với thầy trò khoa Ngữ văn trên những chặng đường lớn tiếp theo.

3. Con đường lớn với những thử thách và thời cơ, triển vọng ở phía trước

Trên con đường lớn 75 năm xây dựng và phát triển, đây là giai đoạn Khoa Ngữ văn có sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ giảng dạy. So với mười lăm năm trước, số cán bộ giảng dạy của Khoa giảm đi hơn 1/3, số cán bộ mới đang bổ sung chưa đủ bù đắp nhiều cán bộ nghỉ hưu, thuyên chuyển công tác. Số lượng cán bộ giảng dạy giảm trong khi công việc đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa nhìn chung không hề giảm. Số lượng nghiên cứu sinh có ít hơn so với trước, số học viên cao học vẫn bảo đảm trung bình hàng năm là 200 người. Đặc biêt số sinh viên lại tăng gấp đôi: từ năm học 2021 - 2022 đến nay, trung bình hàng năm có 480 sinh viên nhập học. Dự kiến số sinh viên vào Khoa trong những năm tiếp theo vẫn ổn định và có chiều hướng gia tăng nếu Khoa không cắt giảm chỉ tiêu. Điều này tạo một áp lực lớn lên đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa.

Khoa Ngữ văn – Con đường lớn với những toà lầu rạng rỡ - ảnh 7
Tập thể cán bộ Khoa Ngữ văn trước Nhà Hiệu bộ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Ngữ văn là một khoa chuyên về sư phạm, chủ yếu là đào tạo giáo viên cho cấp trung học phổ thông. Khoa còn chuyên về ngành ngữ văn, giảng dạy hay nghiên cứu khoa học chủ yếu tập trung vào văn học và ngôn ngữ. Cái mạnh của chuyên là sâu và tinh. Tuy nhiên, chuyên cũng dễ nảy sinh hạn chế, chỉ chú ý sâu nên có khi thành hẹp, thạo thâm canh mà ngại quảng canh, tính linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của môi trường chưa thật cao.

Nhu cầu cập nhật, hiện đại hóa kiến thức về nội dung, nhu cầu vận dụng những tiến bộ khoa học, nhất là khoa học công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy trở thành nhu cầu bức thiết. Thời đại kĩ thuật số đem đến những thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với ngành khoa học xã hội nói chung, ngành ngữ văn nói riêng. Xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới trở thành một xu hướng lớn có tác động mạnh mẽ tới Khoa Ngữ văn và cũng là thử thách lớn đối với Khoa khi bước chân lên con đường lớn của thời đại hội nhập và phát triển.

Để thích ứng và tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh mới, Khoa Ngữ văn cần kết hợp giữa chuyên ngành và đa ngành, đa dạng hóa đào tạo, tiếp tục phương châm kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học. Phải giữ chuyên ngành, phải mạnh về chuyên ngành, Khoa Ngữ văn mới giữ được vị trí đầu tàu trong hệ thống các trường sư phạm đào tạo giáo viên Ngữ văn, đứng tốp đầu trong hệ thống các trung tâm nghiên cứu về văn học và ngôn ngữ. Phải đa ngành, đa dạng hóa đào tạo, Khoa mới vững bước trong xu hướng phát triển và hộ nhập. Phương châm đa ngành, đa dạng hóa đào tạo đã phát huy tác dụng và đem lại hiệu quả lớn, thiết thực. Sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của hệ cử nhân văn học, hệ lưỡng quốc cử nhân Việt Nam - Hàn Quốc, môn Cơ sở văn hóa Việt Nam là những minh chứng đầy sức thuyết phục.

Hiện nay ở Khoa Ngữ văn đã hình thành và hoạt động có hiệu quả những hướng nghiên cứu: 1) Nghiên cứu đặc trưng loại thể văn học; 2) Nghiên cứu so sánh văn học – văn hóa; 3) Nghiên cứu liên ngành; 4) Văn học ứng dụng.

Để hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy - học, để có thể hội nhập và phát triển, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Khoa là kết hợp, cùng một lúc nâng cao cả trình độ chuyên ngành lẫn trình độ công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trình độ ngoại ngữ. Cán bộ giảng dạy của Khoa Ngữ văn đã và đang phấn đấu để có trình độ cao về khoa học chuyên ngành, giỏi về ngoại ngữ, thành thạo trong việc vận dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo tạo nên thế đứng chân kiềng, chân vạc vững chãi. 

Một trong những phương hướng lớn của Khoa là nâng tầm Khoa lên thành Trường, vừa mở thêm mã ngành đào tạo, vừa liên ngành với một số khoa thuộc khối ngành Khoa học xã hội để phát triển xứng tầm với kỉ nguyên mới của đất nước, của ngành giáo dục Việt Nam.

Khoa Ngữ văn đang đứng trước những thời cơ mới và cả những thách thức mới. Phát huy sức mạnh truyền thống và với tiềm lực lớn sẵn có, Khoa Ngữ văn đang vượt qua những thách thức, nắm lấy thời cơ để tiếp tục phát triển, xứng đáng là một trong những trung tâm có uy tín nhất về khoa học ngữ văn và khoa học sư phạm của cả nước. Con đường lớn Khoa Ngữ văn vẫn rộng mở về phía trước, những tòa lầu rạng rỡ Khoa Ngữ văn sẽ ngày càng thêm cao, thêm sáng, thêm đẹp.

                                                                            Hà Nội, mùa Thu 2026