Gieo chữ nơi mây phủ
VHO - Từ những túp lều “trọ học, nuôi chữ” chênh vênh giữa sương núi đến những ngôi trường bán trú, nội trú vùng biên đang dần hiện hữu, giáo dục vùng cao xứ Thanh đã đi qua một hành trình nhiều nhọc nhằn.
Ở nơi ấy, con chữ được giữ lại bằng bước chân bền bỉ của thầy cô, bằng những bữa cơm bán trú sẻ chia và bằng những chính sách đang trở thành điểm tựa cho học sinh, giáo viên vùng khó.

Những bước chân giữ trò ở lại
Gần hai thập kỷ trôi qua, ký ức về một thời gian khó vẫn còn nguyên trong tâm trí những người từng ngược lên các xã biên giới Trung Lý, Nhi Sơn, Mường Lý của huyện Mường Lát cũ. Ngày ấy, đường độc đạo xuyên núi quanh năm phủ sương.
Dọc các triền dốc là những căn lều dựng tạm bằng nứa, bằng bạt, nơi học sinh từ bản xa xuống trường trọ học. Chiều vùng cao xuống nhanh. Qua màn sương đặc quánh, ánh lửa bếp củi hắt ra từ vách nứa mỏng, đủ để thấy bên trong vẫn có những đứa trẻ đang bám lấy giấc mơ học chữ.
Sau giờ học, các em tự nấu cơm, gùi nước, nhóm lửa. Có em cả tháng mới về nhà một lần. Cuộc sống tự lập đến sớm, bởi đi tìm con chữ cũng có nghĩa phải rời xa gia đình từ rất nhỏ.
Thầy giáo Đoàn Văn Sơn, nguyên Hiệu trưởng Trường PTDT bán trú THCS Trung Lý, nay là Hiệu trưởng Trường THCS Quang Chiểu, nhớ lại: “Hồi đó học sinh người Mông đến lớp rất ít, học sinh nữ gần như vắng bóng. Muốn có trò, thầy cô phải đi bộ vào từng bản vận động, trong khi nhiều gia đình vẫn nghĩ cái chữ chưa nuôi được cái bụng”.
Cái nghèo khiến việc học đứng sau nương rẫy, sau bữa cơm. Chính sách bán trú lúc ấy còn thiếu và rời rạc, chuyện ăn ở của học sinh gần như phải tự xoay xở. Trong số những học trò từng được thầy cô vận động trở lại lớp cóThào A Pua, cậu bé người Mông ở bản Pa Búa, thông minh và ham học, nhưng em bị giữ ở nhà vì là con cả trong gia đình đông anh em.
Phải nhiều lần thuyết phục, từ giáo viên đến trưởng bản cùng vào cuộc, gia đình mới đồng ý cho Pua xuống trường. Ngày trở lại lớp, Pua vẫn gùi bao gạo sau lưng, nhưng lần này là để ở lại với giấc mơ làm thầy giáo.
Cũng ở Trung Lý năm ấy có Sùng A Chai, cậu học trò mới 12 tuổi bị bố mẹ bắt nghỉ học để lấy vợ theo hủ tục tảo hôn. Nhớ trường, nhớ bạn, A Chai quyết định rời nhà quay lại lớp. Sự quyết tâm ấy, cùng sự động viên của thầy cô và dân bản, đã giúp em được tiếp tục đi học.
Cùng với A Pua, A Chai, còn rất nhiều học trò âm thầm “nuôi chữ” trong những căn lều tạm quanh trường. Đầu tháng, các em gùi gạo xuống lớp. Cuối tháng gạo vơi lại chia nhau từng bữa. Thầy cô cógì góp nấy, chỉ để học trò không nghỉ giữa chừng. “Giữ một đứa trẻ ở lại lớp thời điểm ấy không đơn giản là trách nhiệm. Đólà cả một hành trình gian nan”, thầy Sơn nói.
Trên đỉnh Cao Sơn thuộc xã Cổ Lũng hôm nay, câu chuyện giữ học trò cũng từng nhọc nhằn như thế. Gần 20 năm trước, vùng đất giữa những dãy Pha Chiến, Pòng Mứu, Pòng Pa Cóchưa cóđiện, chưa cósóng điện thoại, chưa có đường ô tô, lớp học chỉ là vài gian nhà tranh vách nứa nền đất.
Năm 2007, một “công trường” đặc biệt bắt đầu giữa núi rừng. Không máy móc, các thầy giáo cùng thanh niên trong bản gùi đá vượt núi, phụ nữ gánh cát từ suối lên dốc. Có trường rồi, thầy cô vẫn phải đi từng nhà sau mùa rẫy, sau tết, sau mưa lũ để vận động học sinh quay lại lớp.
Khi chính sách trở thành “điểm tựa”
Hôm nay, nhiều điểm trường vùng cao xứ Thanh đã đổi khác. Con đường đất ngày nào được trải nhựa, những ngôi trường kiên cố dần thay thế lớp học tranh tre giữa núi rừng. Dẫu vậy, hành trình giữ học trò ở lại lớp vẫn còn nhiều gian nan. Ở vùng cao, có khi mọi chuyện bắt đầu từ một bữa cơm bán trú.
Tại Trường Tiểu học Thanh Xuân, xã Phú Xuân, cógiai đoạn bếp ăn bán trú phải tạm dừng. Điều các thầy cô lo nhất là lớp sẽ vơi dần học sinh. Rồi họ đi vận động từng suất cơm, người hỗ trợ gạo, người góp thực phẩm, phụ huynh thêm chút tiền để giữ bữa ăn giữa buổi. “Nếu không có bữa cơm ở trường, nhiều em sẽ nghỉ học vì đường quá xa”, thầy Đặng Xuân Viên, Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ.
Không riêng học sinh, nhiều giáo viên vùng cao cũng từng chật vật khi thu nhập giảm sút. Có người mỗi tuần vượt ba chặng xe về thăm gia đình, có người từng tính xin chuyển công tác vì áp lực cuộc sống. Nhưng phần lớn vẫn chọn ở lại, tăng gia trồng rau, làm thêm cuối tuần, chấp nhận sống xa nhà dài ngày để giảm chi phí đi lại. Sự bền bỉ ấy đã giữ cho những lớp học vùng cao không bị đứt gãy.
Từ thực tiễn ấy, nhiều chính sách mới được điều chỉnh sát hơn với đời sống đồng bào. Nghị định 66/2025/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ học sinh bán trú bằng tiền ăn, tiền ở và gạo, đồng thời bổ sung cơ chế hỗ trợ hoạt động bán trú trong trường học. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cũng mở thêm kỳ vọng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Điều đáng quý là từ chính những bản làng heo hút ấy, một lớp giáo viên mới đang trở về. Sùng A Chai nay đã là thầy giáo trên quê hương mình. Thào A Pua giờ cũng đứng trên bục giảng. “Nhìn học trò, em thấy lại mình ngày trước”, A Pua tâm sự. Câu nói mộc mạc ấy gợi ra cả một hành trình dài của những đứa trẻ nghèo từng lặn lội đi tìm con chữ, rồi lớn lên, quay về, tiếp tục thắp sáng ước mơ nơi bản làng.
Từ những lớp học giữa đại ngàn, giáo dục vùng cao xứ Thanh đang bước sang một chặng đường mới. Con chữ hôm nay cóthêm điểm tựa từ chính sách, từ trường lớp mới, từ những bữa cơm bán trú ấm lòng và từ khát vọng đổi đời của những học trò lớn lên giữa gian khó.

RSS