Nghị định số 269/2026/NĐ-CP: Tạo đột phá về bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số

TRỊNH NGỌC CHUNG

VHO - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một nghị định chuyên ngành quy định đồng bộ, toàn diện về cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, tạo hành lang pháp lý thống nhất để triển khai Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP: Tạo đột phá về bảo tồn, phát huy văn hóa  truyền thống các dân tộc thiểu số - ảnh 1
Nghị định xác lập cơ chế hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt. Ảnh: Trần Huấn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa, biến đổi phương thức sinh hoạt và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một, thậm chí thất truyền. Không ít nghề thủ công truyền thống, lễ hội, tiếng nói, chữ viết, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian chỉ còn được lưu giữ bởi số ít nghệ nhân cao tuổi, trong khi lực lượng kế cận ngày càng mỏng.

Thực tiễn đó đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách đủ mạnh, cụ thể để chuyển từ tư duy “bảo tồn đơn thuần” sang “bảo tồn để phát triển”, đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế - xã hội.

Những điểm mới mang tính đột phá

Điểm đột phá đầu tiên của Nghị định là xây dựng cơ chế nhận diện, đánh giá và ưu tiên bảo tồn trên cơ sở các tiêu chí cụ thể. Lần đầu tiên, việc xác định văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một và không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn được thực hiện theo bộ tiêu chí thống nhất trên phạm vi cả nước. Các địa phương có trách nhiệm rà soát, thống kê, lập danh mục và định kỳ cập nhật, qua đó giúp việc đầu tư nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, hiệu quả thay vì dàn trải như trước đây.

Một điểm mới rất quan trọng khác, đó là Nghị định chính thức xác lập khái niệm và cơ chế hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và chủ thể văn hóa tiềm năng. Điều này thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý: Bảo tồn văn hóa không chỉ là bảo tồn hiện vật hay lễ hội, mà trước hết phải bắt đầu từ con người, những người đang trực tiếp nắm giữ, thực hành và truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống.

Việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động thực hành, truyền dạy sẽ tạo động lực để các nghệ nhân, người am hiểu văn hóa tiếp tục gìn giữ, trao truyền và cống hiến, đồng thời khuyến khích thế hệ trẻ tham gia tìm hiểu, học hỏi để kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Bên cạnh đó, Nghị định lần đầu tiên quy định việc xây dựng các không gian trải nghiệm văn hóa truyền thống trong trường học và khu dân cư, góp phần đưa văn hóa dân tộc đến gần hơn với HSSV và thanh thiếu niên. Đây là giải pháp có ý nghĩa lâu dài, giúp hình thành thế hệ kế cận có hiểu biết, niềm tự hào và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Gắn bảo tồn với phát triển kinh tế

Một trong những nội dung nổi bật của Nghị định là gắn bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số với phát triển du lịch cộng đồng, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo.

Theo đó, các địa phương được khuyến khích đầu tư xây dựng không gian văn hóa truyền thống, phát triển sản phẩm văn hóa đặc trưng, hỗ trợ làng nghề, câu lạc bộ văn hóa dân gian, phát triển các tuyến du lịch văn hóa, quảng bá trên nền tảng số và xây dựng chuỗi giá trị từ tài nguyên văn hóa. Cộng đồng dân cư không chỉ là người gìn giữ văn hóa mà còn trực tiếp được hưởng lợi từ việc khai thác các giá trị văn hóa thông qua phát triển du lịch, dịch vụ và sản xuất các sản phẩm văn hóa truyền thống đặc sắc.

Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Một điểm mới đáng chú ý khác là Nghị định dành riêng các quy định về số hóa và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Các địa phương được hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu số, nền tảng số đa ngôn ngữ, số hóa tư liệu, quảng bá văn hóa trên môi trường số và ứng dụng công nghệ trong giáo dục, truyền thông và phát triển du lịch.

Việc ứng dụng công nghệ không chỉ góp phần lưu giữ lâu dài các giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một mà còn mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng trong và ngoài nước, tạo điều kiện để văn hóa truyền thống trở thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế số và công nghiệp văn hóa.

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP được kỳ vọng tạo ra nhiều tác động tích cực, hiệu quả cả về văn hóa, xã hội và kinh tế.

Thứ nhất, Nghị định sẽ góp phần bảo vệ hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một thông qua cơ chế thống kê, đánh giá, ưu tiên đầu tư và hỗ trợ cụ thể, hạn chế nguy cơ thất truyền nhiều loại hình văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ chủ thể văn hóa sẽ tạo động lực để nghệ nhân, người có uy tín và thế hệ trẻ tiếp tục gìn giữ, thực hành và truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo đảm tính liên tục của quá trình trao truyền văn hóa giữa các thế hệ trong tương lai.

Thứ ba, việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, làng nghề và sản phẩm văn hóa sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần chuyển hóa tài nguyên văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển kinh tế, đúng với tinh thần “văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển”.

Thứ tư, cơ chế huy động đồng thời nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các chương trình mục tiêu quốc gia và xã hội hóa sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo điều kiện để nhiều tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.

Thứ năm, việc đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý văn hóa, nâng cao hiệu quả quảng bá hình ảnh các dân tộc Việt Nam và mở rộng không gian phát triển của các sản phẩm văn hóa trên môi trường số.