Mai này, ai giữ nhịp sử thi Raglai?
VHO - Giữa núi rừng phía Tây tỉnh Khánh Hòa, những câu hát sử thi Raglai vẫn được lưu giữ qua trí nhớ và giọng kể của các nghệ nhân cao tuổi.

Từ những câu chuyện về nguồn cội, cuộc đấu tranh bảo vệ buôn làng đến tình yêu đôi lứa, sử thi là kho tàng văn hóa, lịch sử được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nhưng khi những người thuộc nằm lòng các tác phẩm sử thi ngày càng ít, nguy cơ đứt gãy mạch truyền trao đang hiện hữu.
Gìn giữ sử thi bằng ký ức
Ở xã Bác Ái Tây, mỗi ngày nghệ nhân Katơr Thị Sính vẫn đều đặn cất lên những câu hát sử thi đã gắn bó với bà trong suốt cuộc đời. Là một trong những nghệ nhân còn lưu giữ được vốn sử thi phong phú, bà Sính thuộc nhiều làn điệu với cách kể giàu hình ảnh, giàu nhạc tính.
Với người Raglai, sử thi (Akhat Jucar) không chỉ là những câu chuyện được hát kể trong sinh hoạt cộng đồng. Qua từng lời ca, những ký ức về lịch sử, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ buôn làng cùng những câu chuyện về tình yêu, cách ứng xử và các giá trị đạo đức được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Bởi vậy với bà Sính, mỗi tác phẩm sử thi không chỉ là một bài hát mà còn là một phần ký ức văn hóa của cộng đồng.
Ở thôn Apa 2, xã Tây Khánh Sơn, nghệ nhân Cao Thị Thanh đang lưu giữ bản sử thi Udai - Ujac, tác phẩm về đề tài chiến tranh tiêu biểu của người Raglai tại vùng này.
Đã bước qua tuổi 80, mắt mờ, chân yếu, nhưng mỗi khi có người hỏi về sử thi, bà Thanh vẫn hào hứng kể lại những câu chuyện đã thuộc nằm lòng từ thuở thiếu niên.
Bà bắt đầu học sử thi từ mẹ khi mới 15 tuổi. Những câu hát theo bà trong suốt cuộc đời, từ những ngày còn trẻ, khi lập gia đình cho đến lúc hát cho con cháu nghe.
Điều khiến bà lo lắng nhất là những câu chuyện mình dành cả đời để ghi nhớ sẽ không có người tiếp nối. Vì vậy, bà luôn sẵn lòng truyền dạy cho con cháu và những người trẻ muốn học.
Với một di sản chủ yếu được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu, việc có người tiếp nhận và thực hành là yếu tố quan trọng để những tác phẩm sử thi không bị đứt mạch.
Nỗi lo sử thi bị lãng quên
Tại thôn Tà Giang, xã Tây Khánh Sơn, nghệ nhân Cao Thị Quang đã 92 tuổi nhưng vẫn đau đáu với những câu chuyện sử thi của cha ông.
Bà học sử thi từ mẹ qua những năm tháng tuổi thơ. Theo mẹ lên rẫy, xuống suối lấy nước, giã gạo, bà vừa nghe vừa hát theo. Cứ như vậy, từng câu hát, từng câu chuyện dần được ghi nhớ trong trí nhớ của người con gái Raglai.
Đến nay, giọng hát đã khàn đục theo năm tháng, nhưng bà Quang vẫn có thể tái hiện những tác phẩm sử thi như “Chàng Chilang” trong nhiều ngày đêm liên tục.

Điều khiến bà trăn trở là lớp trẻ ngày nay ít quan tâm đến sử thi, trong khi những người thuộc và có khả năng hát kể trọn vẹn các tác phẩm ngày càng cao tuổi.
Bà lo rằng những di sản được cha ông truyền lại có thể theo mình về với tổ tiên nếu không tìm được người kế tục.
Không chỉ các nghệ nhân trực tiếp hát kể, hành trình gìn giữ sử thi Raglai còn có những người nhiều năm lặng lẽ sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu. Nghệ nhân Ưu tú, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Mấu Quốc Tiến là một trong những người như thế.
Nhiều năm qua, ông đã tìm đến các buôn làng, gặp gỡ những nghệ nhân cao tuổi, lắng nghe và ghi lại những tác phẩm sử thi được lưu truyền bằng trí nhớ và lời hát.
Công việc ấy càng trở nên cấp thiết khi những người nắm giữ vốn sử thi ngày càng cao tuổi, trong khi lớp trẻ ít có điều kiện tiếp cận và học hát kể những trường ca dài.
Với nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến, sưu tầm sử thi không chỉ là ghi lại những câu chuyện của cha ông mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng. Những tư liệu được sưu tầm, ghi chép là nguồn tài sản quý phục vụ nghiên cứu, giới thiệu và trao truyền di sản cho các thế hệ sau.
Tuy nhiên, lưu giữ bằng tư liệu vẫn chưa đủ. Sử thi vốn sống trong không gian diễn xướng và trong chính giọng kể của cộng đồng.
Bởi vậy, bảo tồn hiệu quả không chỉ là giữ lại văn bản, bản ghi âm hay hình ảnh, mà còn phải tạo điều kiện để người trẻ được nghe, được học và thực hành, để những câu chuyện của cha ông tiếp tục có đời sống trong cộng đồng.
Thực tế tại các địa phương cho thấy, số người còn có thể hát kể sử thi Raglai hiện chỉ còn “vài nghệ nhân cao tuổi” ở mỗi vùng. Ở một số thôn, chỉ còn một người có khả năng truyền dạy chính và một học trò kế cận.
Đây là thực trạng đáng lưu tâm đối với một loại hình di sản được trao truyền chủ yếu bằng phương thức truyền khẩu. Khi nghệ nhân qua đời mà chưa kịp truyền lại vốn tri thức, những tác phẩm, làn điệu và cách kể đặc trưng có nguy cơ mất đi cùng người lưu giữ.
Bảo tồn sử thi Raglai vì thế không chỉ dừng ở việc sưu tầm tư liệu. Việc kiểm kê, ghi âm, ghi hình các nghệ nhân và tác phẩm còn được lưu giữ cần được thực hiện đồng bộ, cùng với tổ chức các lớp truyền dạy để thế hệ trẻ có cơ hội tiếp cận và thực hành.
Cùng với đó, chính sách động viên, hỗ trợ và đãi ngộ phù hợp đối với nghệ nhân cũng cần được quan tâm. Bởi họ không chỉ là người hát kể mà còn là những “kho tư liệu sống”, đang lưu giữ một phần ký ức lịch sử, văn hóa và đời sống tinh thần của cộng đồng Raglai.
Sử thi Raglai không chỉ kể những câu chuyện của quá khứ. Trong từng lời hát là ký ức về con người, núi rừng, cộng đồng và những giá trị được vun đắp qua nhiều thế hệ.
Những nghệ nhân như Katơr Thị Sính, Cao Thị Thanh, Cao Thị Quang và những người lặng lẽ sưu tầm, nghiên cứu như nghệ nhân Mấu Quốc Tiến đang trở thành những nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại.
Khi mái tóc đã bạc, sức khỏe không còn như trước, điều họ mong muốn vẫn là có người tiếp nhận và tiếp tục cất lên những lời ca của cha ông.
Để rồi, giữa dòng chảy của đời sống hiện đại, tiếng hát sử thi Raglai vẫn có cơ hội ngân vang, không chỉ như một ký ức của quá khứ mà còn như một phần sống động của văn hóa hôm nay.

RSS