Xây dựng “văn hóa thực thi” cho giai đoạn phát triển mới

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

VHO - Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sáng 5.10.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra nhiều vấn đề lớn về xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, công tác cán bộ và phát triển kinh tế - xã hội.

Xây dựng “văn hóa thực thi” cho giai đoạn phát triển mới - ảnh 1
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Ảnh: chinhphu.vn

Xuyên suốt là yêu cầu: chủ trương phải chuyển hóa thành hành động, quyền hạn đi cùng trách nhiệm, nguồn lực tạo ra năng lực phát triển, còn hiệu quả của quyết sách phải được kiểm chứng bằng thay đổi thực tế trong đời sống Nhân dân. Nhìn từ lĩnh vực văn hóa, đó cũng là yêu cầu xây dựng một “văn hóa thực thi” cho giai đoạn phát triển mới.

Đổi mới từ cách nghĩ đến cách làm

Một điểm nổi bật trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 là cách đặt vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong quan hệ trực tiếp với năng lực lãnh đạo phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ yêu cầu nhìn lại những chuyển biến về tổ chức, xây dựng Đảng, mà còn đặt câu hỏi: những chuyển biến ấy đã nâng cao chất lượng lãnh đạo, khả năng giải quyết các vấn đề phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân đến đâu. Cách đặt vấn đề đó cho thấy thước đo ngày càng phải đi vào thực chất: không chỉ đúng chủ trương, chặt chẽ quy trình, mà còn phải giải quyết được việc, tạo ra chuyển biến và củng cố niềm tin.

Tinh thần ấy thể hiện rõ khi bài phát biểu yêu cầu nhìn thẳng vào những hạn chế kéo dài: vì sao khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa; vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn; có nội dung “đúng quy trình” mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc, hiệu quả thấp. Quy trình là cần thiết để giữ nguyên tắc và kỷ luật, nhưng quy trình không thể thay thế trách nhiệm. Nếu thủ tục đầy đủ mà công việc vẫn trì trệ, nếu quyết định hợp lệ mà kết quả không đáp ứng yêu cầu, thì cần tiếp tục truy đến chất lượng tham mưu, chất lượng lựa chọn và trách nhiệm của người quyết định.

Ở chiều sâu, đó là câu chuyện của văn hóa chính trị và văn hóa công vụ. Bài phát biểu nhấn mạnh xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh phải thể hiện ở sự liêm chính, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng và trách nhiệm trước Nhân dân. Những giá trị ấy không chỉ làm nên phẩm chất của cán bộ, đảng viên mà còn quyết định chất lượng của cả hệ thống. Tôn trọng sự thật để nhận diện đúng vấn đề; công tâm để chọn đúng người; liêm chính để sử dụng đúng nguồn lực; trách nhiệm để không đùn đẩy việc khó. Đó chính là nền tảng văn hóa của năng lực thực thi.

Đáng chú ý, Nhân dân được đặt ở cả điểm xuất phát và điểm đến của quá trình xây dựng Đảng. Phải thực sự dựa vào Nhân dân; lắng nghe, tiếp thu ý kiến đúng, giải quyết quyền lợi chính đáng, sửa chữa khuyết điểm; đồng thời tạo điều kiện để Nhân dân tham gia đóng góp chủ trương, giám sát thực hiện và thụ hưởng thành quả. Niềm tin vì thế không được tạo nên bằng tuyên bố, mà bằng trải nghiệm thực tế: vấn đề được giải quyết, quyền lợi được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên.

Trong bối cảnh biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi năng lực quản trị cao hơn. Khi đất nước cần đi nhanh hơn, tư duy chiến lược phải sắc bén hơn, bộ máy phải chủ động hơn và trách nhiệm cá nhân phải rõ hơn. Một giai đoạn phát triển mới không thể vận hành hiệu quả bằng quán tính cũ. Đổi mới vì thế không chỉ nằm ở mô hình tổ chức hay văn bản chính sách, mà trước hết phải trở thành cách nghĩ, cách làm và thói quen hành động.

Trao quyền thực chất, trọng dụng thực tài

Thông điệp thứ hai rất đáng chú ý là: bộ máy thay đổi thì cách làm việc cũng phải thay đổi. Câu “Không thể chỉ sắp xếp lại bộ máy mà giữ nguyên cách làm việc không còn phù hợp” chạm đúng một yêu cầu sau cải cách tổ chức. Nếu chỉ thay sơ đồ mà không thay phương thức lãnh đạo, cơ chế phối hợp, cách xử lý công việc và cách chịu trách nhiệm, hiệu quả mới sẽ khó xuất hiện. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền vì thế phải gắn với phân định rõ trách nhiệm và phát huy đầy đủ thẩm quyền, tính chủ động của từng cấp, từng cơ quan.

Bài phát biểu cũng đặt ra câu hỏi về tình trạng nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến. Hoạt động của bộ máy không thể được đo chủ yếu bằng số lượng văn bản hay cuộc họp, mà bằng vấn đề đã được giải quyết đến đâu. Dữ liệu và công nghệ phải giúp tham mưu chính xác, nhận diện sớm nguy cơ, nhưng không thay thế trách nhiệm của người quyết định. Công nghệ có thể hỗ trợ; bản lĩnh và trách nhiệm vẫn thuộc về con người.

Tinh thần trao quyền thực chất được nhấn mạnh trong yêu cầu đối với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Phân cấp, phân quyền phải tạo ra năng lực hành động; phải làm rõ quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện thực hiện. Không thể chuyển việc xuống dưới khi thiếu người, thiếu nguồn lực; cũng không thể đã giao quyền rồi lại can thiệp làm mất quyền chủ động. Nguyên tắc ở đây là: quyền phải đi với nguồn lực, trách nhiệm phải đi với quyền hạn, còn kiểm soát phải đủ để ngăn cả lạm quyền lẫn né tránh trách nhiệm.

Từ bộ máy, bài phát biểu chuyển sang khâu quyết định là cán bộ. Quyết sách chỉ trở thành hiện thực khi có đội ngũ đủ phẩm chất, năng lực và trách nhiệm. Đáng chú ý, cán bộ phải được đánh giá qua phẩm chất, thực tài, uy tín và triển vọng trong công việc, nhất là cách xử lý việc khó. Đây là một chuyển dịch quan trọng từ đánh giá nặng về hồ sơ, thành tích sang đánh giá bằng năng lực giải quyết vấn đề. Người cán bộ tốt không chỉ là người ít sai, mà còn phải là người dám nhận việc, biết tổ chức thực hiện và tạo ra kết quả.

Một câu đáng chú ý là: “Mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn”. Thành công của người đứng đầu vì thế không chỉ nằm ở những việc hoàn thành trong nhiệm kỳ, mà còn ở chất lượng đội ngũ được chuẩn bị cho tương lai. Biết phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, phát huy trí tuệ tập thể và xây dựng lớp kế cận là một biểu hiện quan trọng của văn hóa tổ chức.

Cùng với đó là yêu cầu mở rộng nguồn cán bộ, thu hút người có năng lực từ khu vực ngoài nhà nước, người Việt Nam ở nước ngoài; tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật; phát triển cả lãnh đạo, quản lý và chuyên gia sâu. Bài phát biểu nhấn mạnh “trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài”. Trọng dụng không thể chỉ là lời mời gọi. Muốn người tài phát huy phải có nhiệm vụ lớn, quyền hạn thực chất, nguồn lực phù hợp, cơ chế đánh giá theo đóng góp và môi trường tôn trọng sáng tạo, chấp nhận rủi ro nghiên cứu có kiểm soát.

Lấy chất lượng phát triển và sự thụ hưởng của Nhân dân làm thước đo

Tinh thần hành động trong bài phát biểu được nối trực tiếp với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chín tháng năm 2026, GDP cả nước đạt 9,01%, trong đó 12/34 tỉnh, thành phố tăng trên 10%. Đây là kết quả tích cực, song bài phát biểu yêu cầu xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống Nhân dân. Tăng trưởng cao chỉ thật sự có ý nghĩa khi tạo ra năng lực sản xuất mới, nâng sức cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống.

Với năm 2027, yêu cầu là tăng tốc, bứt phá, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ; trong đó cần thảo luận kỹ điều kiện phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên và lạm phát khoảng 4,5%. Nhưng tốc độ không được tách khỏi chất lượng. Phải tạo động lực tăng trưởng mạnh hơn đồng thời giữ ổn định vĩ mô, các cân đối lớn và sức chống chịu của nền kinh tế. Điều cần tìm không chỉ là thêm nguồn lực, mà là những khâu đột phá để chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất, kinh doanh và kết quả phát triển thực chất.

Theo tinh thần đó, thể chế phải được tháo gỡ để nâng năng lực hấp thụ vốn; hạ tầng, năng lượng, nhân lực phải đáp ứng yêu cầu mới; đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài phải được khơi thông. Thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và nâng giá trị gia tăng trong nước. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành nguồn tăng năng suất. Nguồn lực công phải có sức lan tỏa, thu hút nguồn lực xã hội và đem lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân.

Đáng chú ý với lĩnh vực văn hóa là bài phát biểu đặt giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở và an sinh xã hội ngay trong nội hàm của chất lượng phát triển. Mọi lựa chọn phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, mở rộng cơ hội và bảo đảm công bằng trong thụ hưởng. Văn hóa vì thế không đứng ngoài câu chuyện tăng trưởng, cũng không phải phần việc chờ kinh tế phát triển xong mới quan tâm. Văn hóa là một thành tố của chất lượng phát triển, của sức mạnh tinh thần, của khả năng gắn kết xã hội và của chính năng lực con người.

Điểm cô đọng nhất của phát biểu khai mạc là bốn yêu cầu xuyên suốt đối với các đề án. Trước hết, phải xác định đúng vấn đề cần giải quyết: vướng ở chủ trương, thể chế, tổ chức thực hiện, phối hợp hay trách nhiệm cá nhân. Thứ hai, chủ trương phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thi hành hiệu quả; phải rõ sửa chính sách nào, cơ quan nào chủ trì, thời hạn nào hoàn thành. Thứ ba, quyết định phải đồng thời bảo đảm con người, thẩm quyền và nguồn lực. Thứ tư, mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn.

Đó chính là logic của văn hóa thực thi: ngay từ khi hình thành quyết sách đã phải nghĩ đến đường đi của quyết sách trong cuộc sống. Ai làm, với quyền hạn và nguồn lực nào, trong bao lâu, kết quả được đo bằng gì? Khi trách nhiệm, thời hạn và tiêu chí không rõ, khoảng cách giữa nghị quyết và cuộc sống dễ kéo dài. Khi từng khâu đều có chủ thể chịu trách nhiệm và cơ chế kiểm chứng, bộ máy có thể vừa nhanh hơn vừa minh bạch hơn.

Tinh thần ấy được diễn đạt rất cô đọng: “Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn. Nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội”. Làm nhanh không đồng nghĩa với làm vội; thận trọng không đồng nghĩa với trì hoãn; quyết đoán không đồng nghĩa với duy ý chí. Cái cần thiết là chuẩn bị chắc, lựa chọn đúng, phân công rõ, trao quyền đủ và kiểm tra bằng kết quả.

Và cuối cùng, tiêu chuẩn cao nhất vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Câu hỏi “vấn đề nào được giải quyết, nguồn lực nào được khơi thông, Nhân dân được hưởng lợi gì?” cũng là thước đo của văn hóa cầm quyền và văn hóa phục vụ. Khi mỗi chủ trương đều đi đến được với người dân bằng những thay đổi có thể cảm nhận, khi cán bộ được đánh giá bằng việc đã làm được gì, khi nguồn lực được sử dụng để mở thêm cơ hội phát triển, niềm tin xã hội sẽ được bồi đắp từ chính kết quả.

Nhìn từ Hội nghị Trung ương 4, có thể thấy nguồn lực quý giá của một giai đoạn tăng tốc không chỉ là vốn, công nghệ hay tài nguyên, mà còn là năng lực tổ chức thực hiện và một văn hóa hành động đủ mạnh. Văn hóa ấy được hình thành từ tôn trọng sự thật, đề cao trách nhiệm, trọng dụng thực tài, dám trao quyền, dám đổi mới và luôn lấy hiệu quả, lợi ích của Nhân dân làm điểm quy chiếu. Khi văn hóa thực thi trở thành chuẩn mực chung, chủ trương đúng mới có thể chuyển hóa nhanh hơn thành sức mạnh phát triển của đất nước.