Từ đổi mới tư duy lý luận đến kiến tạo tương lai văn hóa Việt Nam

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

VHO - Tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương, tổ chức sáng 29.10.2026 tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác lý luận: bắt nguồn từ thực tiễn, dự báo những vấn đề mới và cung cấp luận cứ cho các quyết sách chiến lược. Từ bài phát biểu ấy, một vấn đề rất đáng suy ngẫm đối với lĩnh vực văn hóa là làm thế nào để những nhận thức đúng về vai trò của văn hóa được chuyển hóa thành thể chế, nguồn lực và kết quả phát triển thực chất.

Từ đổi mới tư duy lý luận đến kiến tạo tương lai văn hóa Việt Nam - ảnh 1
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Hội đồng Lý luận Trung ương. Ảnh: HVCTQGHCM

Khi lý luận phải mở đường cho những khả năng phát triển mới

Có những thời điểm, một bài phát biểu không chỉ giao nhiệm vụ cho một cơ quan, mà còn gợi mở cách nhìn mới về trách nhiệm của cả một lĩnh vực. Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương có ý nghĩa như vậy. Điều đọng lại sâu sắc là yêu cầu lý luận không được bằng lòng với việc giải thích những điều đã diễn ra, mà phải đủ sức nhận diện quy luật, dự báo xu thế và góp phần mở ra những khả năng phát triển chưa có tiền lệ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Lý luận phải giúp Đảng chủ động mở ra những khả năng kiến tạo mới, dự báo, nhận diện sớm các nguy cơ và chuẩn bị những điều kiện bảo đảm thành công”. Đằng sau yêu cầu ấy là một tinh thần rất rõ: muốn hành động đúng trong một thế giới biến đổi nhanh, phải đổi mới cách đặt câu hỏi, cách tìm kiếm bằng chứng và cách chuyển tri thức thành quyết sách. Sự phát triển của công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dân số, môi trường và các quan hệ quốc tế đang tạo ra những vấn đề mà kinh nghiệm cũ không phải lúc nào cũng đủ để giải đáp.

Đối với văn hóa, điều này đặc biệt có ý nghĩa. Chúng ta đã nói nhiều và đúng về văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển. Nhưng từ nhận thức ấy đến việc làm rõ văn hóa tạo ra giá trị như thế nào, vận hành trong quan hệ nào với kinh tế, công nghệ và xã hội, và cần thể chế gì để phát huy hiệu quả, vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu. Một lý luận văn hóa có sức sống không thể chỉ lặp lại những khẳng định quen thuộc. Nó phải trả lời được những câu hỏi mới từ cuộc sống: tại sao có di sản trở thành nguồn lực sinh kế bền vững, trong khi có di sản vẫn đứng ngoài đời sống đương đại; tại sao có không gian sáng tạo thu hút cộng đồng, trong khi có thiết chế được đầu tư lớn nhưng chưa phát huy hiệu quả; và người sáng tạo cần điều kiện gì để có thể sống bằng tài năng của mình?

Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị “từ vướng mắc cụ thể” phải nhận diện vấn đề có tính hệ thống, phân biệt nguyên nhân thuộc về nhận thức, thể chế hay tổ chức thực hiện. Đây là một phương pháp rất cần thiết cho quản trị văn hóa. Không phải khó khăn nào cũng có thể giải quyết bằng cách xây thêm công trình hay ban hành thêm văn bản. Có lúc cần thay đổi cách tiếp cận; có lúc phải tháo gỡ rào cản chính sách; có lúc vấn đề nằm ở năng lực thực thi, ở sự thiếu liên kết giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Đáng chú ý hơn, bài phát biểu đặt việc tổng kết một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ với tầm nhìn phát triển một trăm năm tiếp theo, từ 2030 đến 2130. Với văn hóa, tư duy thế kỷ càng có ý nghĩa bởi những gì chúng ta bảo tồn, nuôi dưỡng hoặc bỏ lỡ hôm nay có thể tác động đến nhiều thế hệ. Bản sắc, ngôn ngữ, ký ức lịch sử, các chuẩn mực ứng xử, năng lực sáng tạo và môi trường văn hóa không thể được xây dựng chỉ bằng những mục tiêu ngắn hạn. Tầm nhìn dài hạn không có nghĩa là xa rời việc trước mắt; trái lại, nó buộc mỗi quyết định hôm nay phải có trách nhiệm hơn với tương lai.

Đặt văn hóa và con người vào trung tâm của mô hình phát triển

Một đoạn trong bài phát biểu cần được những người làm công tác văn hóa suy ngẫm thật kỹ: “Phát triển phải hướng tới hoàn thiện con người xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống nhân dân. Cần làm rõ vai trò của văn hóa, lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong định hướng sáng tạo, xây dựng nhân cách và sức mạnh mềm quốc gia”. Đây không chỉ là yêu cầu dành cho hoạt động nghiên cứu lý luận, mà còn là gợi mở để tiếp tục nhận thức đầy đủ hơn vị trí của văn hóa trong mô hình phát triển mới.

Phát triển văn hóa, suy cho cùng, không chỉ nhằm tạo thêm các sản phẩm, công trình hay sự kiện. Điều quan trọng hơn là những giá trị ấy góp phần hình thành con người như thế nào, mở rộng khả năng sáng tạo ra sao, làm giàu đời sống tinh thần và củng cố sự gắn kết xã hội đến đâu. Một lễ hội được tổ chức thành công không chỉ đo bằng số du khách. Một bảo tàng hiện đại không chỉ đo bằng diện tích trưng bày. Một bộ phim đạt doanh thu cao là tín hiệu đáng mừng của thị trường, nhưng câu chuyện văn hóa còn nằm ở khả năng khơi gợi cảm xúc, đối thoại với những giá trị nhân văn và mở rộng sức hấp dẫn của hình ảnh Việt Nam.

Điều đó không có nghĩa xem nhẹ đóng góp kinh tế. Trái lại, trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, chúng ta cần nhận diện đúng giá trị kinh tế của tài nguyên văn hóa, của tài năng sáng tạo và của các sản phẩm nghệ thuật. Nhưng văn hóa có đặc trưng mà không một chỉ số doanh thu đơn lẻ nào phản ánh đầy đủ. Chính vì vậy, khi đánh giá chính sách văn hóa, cần đồng thời xem xét hiệu quả kinh tế, quyền tiếp cận văn hóa của người dân, điều kiện lao động của nghệ sĩ, chất lượng môi trường sáng tạo và những tác động dài hạn đối với con người.

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu đưa văn hóa trở thành nguồn lực và động lực quan trọng của sự phát triển. Bài phát biểu lần này gợi mở thêm một nhiệm vụ: muốn thực hiện được định hướng ấy, cần có nền tảng lý luận đủ sâu và những cơ chế đủ rõ để văn hóa tham gia thực chất vào mô hình tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, quản trị quốc gia và hội nhập quốc tế. Vấn đề không chỉ là dành thêm nguồn lực cho văn hóa, mà còn là sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu, tôn trọng quy luật sáng tạo và tạo điều kiện để các chủ thể văn hóa phát huy năng lực.

Đặc biệt, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề cập trực tiếp đến lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, có thể thấy một yêu cầu rất thiết thực: lý luận và phê bình phải đồng hành với đời sống sáng tạo, không đứng ngoài những chuyển động của nghệ thuật đương đại. Thế giới biểu đạt đang thay đổi bởi nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, nghệ thuật tương tác và sự giao thoa giữa các loại hình. Nếu thiếu nghiên cứu nghiêm túc và đối thoại cởi mở, rất khó vừa khuyến khích cái mới, vừa giữ được chiều sâu thẩm mỹ và những giá trị nhân văn. Lý luận, phê bình cần nâng cao khả năng phát hiện giá trị, đồng hành với nghệ sĩ và góp phần hình thành công chúng có năng lực thưởng thức, phản biện.

Sức mạnh mềm quốc gia cũng phải được nhìn từ nền tảng ấy. Một nền văn hóa có sức hấp dẫn quốc tế không chỉ nhờ những chiến dịch quảng bá, mà trước hết nhờ những giá trị sống động, những tác phẩm có chất lượng và những con người có khả năng kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ sáng tạo của thời đại. Bản sắc và hội nhập, bảo tồn và đổi mới, giá trị tinh thần và giá trị kinh tế không phải những cặp đối lập buộc phải lựa chọn một phía. Vấn đề là xây dựng được thể chế và môi trường phát triển để các giá trị ấy bổ sung, nâng đỡ nhau.

Từ tri thức khoa học đến thể chế và hành động thực chất

Một điểm rất đáng chú ý khác trong bài phát biểu là tinh thần coi trọng thực tiễn, dân chủ khoa học và liêm chính học thuật. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu khảo sát kỹ lưỡng, lắng nghe người dân, doanh nghiệp, cán bộ cơ sở; nghiên cứu cả những trường hợp thành công và chưa thành công; tôn trọng ý kiến khác nhau có căn cứ và sẵn sàng điều chỉnh kết luận khi xuất hiện chứng cứ mới. Đó là những nguyên tắc quan trọng để công tác nghiên cứu thực sự tạo ra tri thức có giá trị.

Với văn hóa, cách tiếp cận này đòi hỏi đi vào đời sống cụ thể thay vì chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát. Muốn hiểu một làng nghề đang chuyển mình ra sao, phải đến với nghệ nhân, doanh nghiệp và người lao động. Muốn đánh giá hiệu quả của thiết chế văn hóa, phải quan sát cách người dân sử dụng, chứ không chỉ nhìn vào báo cáo đầu tư. Muốn có chính sách tốt cho công nghiệp biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật hay nội dung số, phải lắng nghe những người trực tiếp sáng tạo, sản xuất, phân phối sản phẩm và cả công chúng thụ hưởng.

Từ đó, cần đổi mới mạnh hơn phương thức nghiên cứu và tham mưu chính sách văn hóa. Mỗi kiến nghị quan trọng phải trả lời rõ vấn đề nào cần giải quyết, nguyên nhân nằm ở đâu, có những phương án nào, tác động và rủi ro ra sao, ai chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và kết quả được đo bằng gì. Đó cũng là cách rút ngắn khoảng cách giữa nhận thức đúng và hành động hiệu quả — khoảng cách mà bài phát biểu đã thẳng thắn chỉ ra.

Bên cạnh những nghiên cứu phục vụ yêu cầu cấp bách, cần có cơ chế đầu tư dài hạn cho những vấn đề nền tảng: lịch sử và lý luận văn hóa Việt Nam, các hệ giá trị, sự biến đổi của đời sống tinh thần, quan hệ giữa công nghệ và sáng tạo, văn hóa trong quản trị, phát triển con người và sức mạnh mềm. Có những kết quả nghiên cứu chưa thể chuyển ngay thành một chính sách cụ thể, nhưng lại là điều kiện để những quyết sách của nhiều năm sau có cơ sở khoa học vững chắc. Bởi vậy, yêu cầu “coi trọng đóng góp mới, tôn trọng thời gian cần thiết của nghiên cứu” trong bài phát biểu có ý nghĩa thiết thực đối với đội ngũ nghiên cứu văn hóa, văn nghệ.

Đồng thời, phải xây dựng hệ sinh thái tri thức kết nối các cơ quan tham mưu, viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở văn hóa, nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo. Không ai có thể tự mình giải quyết đầy đủ những vấn đề liên ngành của văn hóa hôm nay. Cần cơ chế đặt hàng nghiên cứu đúng vấn đề, chia sẻ dữ liệu có trách nhiệm, đối thoại học thuật thẳng thắn và tiếp nhận, phản hồi kết quả nghiên cứu trong quá trình xây dựng chính sách.

Ba mươi năm là dịp nhìn lại chặng đường đóng góp của Hội đồng Lý luận Trung ương, nhưng ý nghĩa lớn hơn của bài phát biểu ngày 29.10 là đặt công tác lý luận trước trách nhiệm của tương lai. Với văn hóa, trách nhiệm ấy có thể bắt đầu từ những câu hỏi rất gần gũi: người dân có được sống trong môi trường văn hóa tốt đẹp hơn không, người sáng tạo có được phát huy tài năng không, di sản có được trao truyền bền vững không, và văn hóa Việt Nam có ngày càng tạo thêm giá trị cho đất nước không? Khi những câu hỏi ấy trở thành điểm xuất phát và thước đo của chính sách, lý luận mới thực sự bước vào cuộc sống.

Muốn đi xa trong một thế giới nhiều biến động, đất nước cần tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, nhưng cũng cần một nền tảng văn hóa đủ vững vàng, những con người giàu khát vọng sáng tạo và một hệ giá trị có sức kết nối các thế hệ. Phát triển lý luận về văn hóa vì thế không phải công việc riêng của các nhà nghiên cứu. Đó là một phần của trách nhiệm kiến tạo tương lai — để văn hóa không chỉ đồng hành với sự phát triển, mà thực sự góp phần mở đường cho sự phát triển của đất nước.