Cần khung hỗ trợ thống nhất trong phát triển công nghiệp văn hóa
VHO - Góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ theo hướng thống nhất, minh bạch, gắn với hiệu quả thực tế, không để chồng chéo ưu đãi và bảo đảm tính đồng bộ trong phân cấp, thực hiện chính sách tại địa phương.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật, đa số đại biểu Quốc hội cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý để chuyển hóa các giá trị văn hóa, sức sáng tạo và tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Bảo đảm hiệu quả đầu tư
Nêu quan điểm về phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư xây dựng được quy định tại khoản 3, khoản 5 và khoản 6 Điều 21, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo, Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho biết, khoản 3 Điều 21 cho phép tính kinh phí phát triển công nghiệp văn hóa vào chi phí xây dựng của dự án. Khoản 5 quy định việc xác định nội dung, quy mô, kinh phí phù hợp với công năng và hiệu quả đầu tư; khoản 6 xác lập trách nhiệm quản lý, bảo quản và sử dụng tài sản hình thành.
Đồng tình với chủ trương đưa nghệ thuật và văn hóa vào không gian sống, nhưng đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo cho rằng cũng cần quan tâm đến hiệu quả khai thác sau đầu tư. Nếu một dự án hoặc một công trình sau khi đưa vào sử dụng mà thiếu đơn vị quản lý, thiếu kinh phí bảo trì hoặc không có hoạt động khai thác phù hợp, công trình có thể xuống cấp, gây lãng phí.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 5 Điều 21 yêu cầu đánh giá phương án khai thác, quản lý, bảo trì và nguồn kinh phí duy trì các hạng mục văn hóa, nhất là đối với công trình sử dụng ngân sách Nhà nước và công trình có tác động trực tiếp đến chi phí nhà ở của người dân. Không nên chỉ đánh giá việc hoàn thành hạng mục đầu tư mà cần đánh giá khả năng sử dụng lâu dài.

Về quyền khai thác dữ liệu văn hóa số tại khoản 3 và các điểm a, c khoản 4 Điều 22, dự thảo Luật đã quy định kết nối, chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, theo đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo, cần làm rõ điều kiện để người sáng tạo được sử dụng dữ liệu làm sản phẩm thương mại. Thực tế hiện nay, dữ liệu văn hóa còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, khả năng liên thông và tái sử dụng hạn chế. Điều đó đặt ra yêu cầu đầu tư số hóa phải đi cùng cơ chế khai thác rõ ràng.
Do đó, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo đề nghị bổ sung tại khoản 4 Điều 22 nguyên tắc dữ liệu được cung cấp để khai thác phải kèm thông tin về nguồn gốc, tình trạng quyền, phạm vi sử dụng và đầu mối giải quyết yêu cầu cấp quyền; đồng thời, tại khoản 5, giao Chính phủ quy định cách thực hiện, phân biệt dữ liệu được sử dụng miễn phí, dữ liệu cần xin phép và dữ liệu hạn chế tiếp cận.
Đối với cơ chế hỗ trợ chi phí sản xuất tại khoản 1, khoản 2 và khoản 6 Điều 34, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo cho biết, Điều 34 quy định ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí thực tế phát sinh tại Việt Nam cho tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ hoạt động sáng tạo, sản xuất, biểu diễn và quảng bá của tổ chức, cá nhân nước ngoài. Mức hỗ trợ không vượt quá 30% chi phí hợp lệ; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chính sách cụ thể.
Đánh giá đây là cơ chế có ý nghĩa trong thu hút các dự án văn hóa quốc tế, nhưng đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo nêu quan điểm rằng cần làm rõ phương pháp xác định hiệu quả kinh tế và giá trị gia tăng thực tế của dự án. Nếu chỉ căn cứ vào quy mô đầu tư hoặc tổng chi phí phát sinh, chính sách có thể chưa ưu tiên đúng những dự án mang lại lợi ích lâu dài cho nền công nghiệp văn hóa trong nước.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 34 nguyên tắc xác định mức hỗ trợ gắn với giá trị gia tăng thực tế tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng nhân lực và dịch vụ trong nước, kết quả chuyển giao kỹ năng, công nghệ và khả năng phát triển thị trường sau dự án. Đồng thời, giao Chính phủ quy định phương pháp đánh giá, kiểm chứng các tiêu chí này để địa phương có cơ sở thực hiện thống nhất.
Thống nhất cơ chế hỗ trợ đoàn làm phim nước ngoài
Góp ý về thu hút đoàn làm phim nước ngoài được quy định tại Điều 34, Điều 36, khoản 3 Điều 37 của dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho biết, mỗi năm Việt Nam chỉ đón 10-12 đoàn làm phim nước ngoài; năm 2024, Thái Lan đón 491 đoàn.
Đại biểu cho rằng chính sách là cần thiết, nhưng thiết kế hiện nay có ba vướng mắc.
Một là, mâu thuẫn ngay trong dự thảo: khoản 4 Điều 36 ấn định hoàn 100% thuế giá trị gia tăng; nhưng khoản 3 Điều 37 sửa Luật Thuế giá trị gia tăng lại giao Chính phủ quy định “số thuế được hoàn”.
Hai là, điều kiện khó thực hiện như yêu cầu tổ chức nước ngoài “có giấy phép cung cấp dịch vụ quay phim”, trong khi chủ thể cung cấp dịch vụ là cơ sở điện ảnh Việt Nam và đoàn phim nước ngoài thường không có mã số thuế tại Việt Nam để làm thủ tục hoàn.
Ba là, cộng dồn và phân tán: Điều 36 hoàn thuế cho đoàn phim nước ngoài, Điều 34 hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam phục vụ đoàn phim, nên cùng một dự án có thể vừa được hoàn 100% thuế, vừa được hỗ trợ đến 30% chi phí mà không có trần chung. Mức hỗ trợ lại do từng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, trong khi dự thảo còn quy định mức hỗ trợ khởi điểm không thấp hơn 10% khi chỉ cần đáp ứng điều kiện tối thiểu.
Với những bất cập trên, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị hợp nhất thành một chương trình quốc gia như Thái Lan: tỷ lệ hỗ trợ theo bậc chi tiêu thực tế tại Việt Nam, có ngưỡng tối thiểu, trần 30% bao gồm mọi khoản hoàn thuế và hỗ trợ, trần tổng kinh phí hằng năm trong dự toán ngân sách trung ương; thủ tục qua cơ sở điện ảnh Việt Nam; hoàn thuế giá trị gia tăng chỉ quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng. Hỗ trợ chỉ chi trả sau khi nghiệm thu chi tiêu thực tế, đúng định hướng của Kết luận 18 là chuyển “từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả”.

Đối với phân quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong dự thảo Luật có ít nhất 6 điều khoản giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chính sách, mức hỗ trợ: khoản 5 Điều 8, khoản 4 Điều 16, khoản 10 Điều 28, khoản 4 Điều 30, khoản 10 Điều 32 và khoản 6 Điều 34.
Ủng hộ việc phân quyền, nhưng theo đại biểu Lê Hoàng Anh, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 chỉ cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chế độ chi “theo quy định khung”, và mọi chính sách tăng chi phải phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp. Không có khung, hệ quả là cuộc đua ưu đãi giữa các tỉnh thay vì liên kết vùng.
Đại biểu Lê Hoàng Anh cho biết, Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã chỉ rõ hạn chế: “phân cấp nguồn thu và quan hệ giữa ngân sách Trung ương - ngân sách địa phương còn bất cập” và yêu cầu bảo đảm “vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương”.
Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị bổ sung một khoản chung tại Điều 29: Chính phủ quy định khung đối tượng, mức trần, điều kiện; Hội đồng nhân dân quyết định trong khung và báo cáo Chính phủ.

RSS