Tạo động lực cho công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội
VHO - Chiều 24.10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận ở Tổ về các dự án: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Tạo động lực cho công nghiệp văn hóa phát triển bền vững
Tham gia thảo luận tại Tổ 1 (Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội) về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm khẳng định, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đi quan trọng nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao sức mạnh mềm của đất nước.
Theo đại biểu, vấn đề quan trọng nhất của dự án Luật không chỉ là đưa ra các chính sách khuyến khích, ưu đãi, mà phải bảo đảm những chính sách đó thực sự hiệu quả, khả thi, đúng đối tượng và không tạo ra kẽ hở để trục lợi.

Trên tinh thần ủng hộ chủ trương, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm trao đổi 4 nhóm vấn đề.
Thứ nhất, về chính sách ưu đãi đầu tư, đại biểu đồng tình với việc dành cơ chế ưu đãi để thu hút nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, cần xác định rõ đối tượng, điều kiện và mức độ ưu đãi.
Theo đại biểu, cần phân biệt giữa những dự án thực sự tạo ra sản phẩm, giá trị sáng tạo với những dự án chủ yếu mang tính thương mại, dịch vụ nhưng được đăng ký dưới danh nghĩa công nghiệp văn hóa.
Nếu quy định quá rộng, thiếu tiêu chí cụ thể, có thể dẫn đến tình trạng ưu đãi không đến đúng đối tượng, trong khi những doanh nghiệp sáng tạo, nhất là doanh nghiệp nhỏ và các dự án khởi nghiệp, lại khó tiếp cận chính sách.
Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định tiêu chí ưu đãi gắn với hoạt động sáng tạo, sản phẩm văn hóa, tài sản trí tuệ và đóng góp thực chất của dự án. Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện, thay vì chỉ căn cứ vào hồ sơ đăng ký ban đầu.
Thứ hai, về chính sách đất đai, đại biểu cho rằng đây là nội dung cần được cân nhắc hết sức thận trọng. Việc tạo điều kiện về đất đai để phát triển các không gian sáng tạo, trung tâm công nghiệp văn hóa và hạ tầng phục vụ hoạt động văn hóa là cần thiết. Tuy nhiên, đất đai là nguồn lực có giá trị lớn, dễ phát sinh thất thoát nếu chính sách ưu đãi không được kiểm soát chặt chẽ.
Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm đề nghị làm rõ loại dự án nào được hưởng ưu đãi đất đai; điều kiện sử dụng đất; trách nhiệm duy trì hoạt động văn hóa theo mục tiêu được phê duyệt; cũng như cơ chế kiểm tra, xử lý khi nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết. Đặc biệt, cần phòng ngừa tình trạng lợi dụng danh nghĩa dự án công nghiệp văn hóa để tiếp cận đất đai ưu đãi, nhưng thực chất chủ yếu phục vụ mục đích kinh doanh bất động sản hoặc thương mại.
"Chính sách đất đai phải phục vụ hoạt động sáng tạo và phát triển văn hóa thực chất, không trở thành một cơ chế ưu đãi bất động sản dưới tên gọi khác. Đồng thời, cần rà soát để bảo đảm thống nhất với pháp luật về đất đai, đầu tư và quản lý tài sản công", đại biểu nhấn mạnh.

Thứ ba, về chính sách tài chính và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, đại biểu tán thành việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa, bởi đây là lĩnh vực có nhiều rủi ro, nhất là trong giai đoạn hình thành ý tưởng, phát triển sản phẩm và tiếp cận thị trường. Nhưng cần phân định rõ những hoạt động Nhà nước phải đầu tư, những hoạt động cần hỗ trợ và những hoạt động doanh nghiệp phải tự vận hành theo cơ chế thị trường.
"Tôi cho rằng không nên thiết kế chính sách theo hướng hỗ trợ dàn trải hoặc cấp phát trực tiếp quá nhiều, mà cần tập trung vào những khâu có khả năng tạo tác động lan tỏa như đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, chuyển đổi số, bảo hộ sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường", đại biểu chia sẻ.
Các cơ chế hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất nếu được quy định cần có điều kiện, thời hạn và tiêu chí đánh giá hiệu quả cụ thể. Đại biểu cũng đề nghị làm rõ nguồn lực thực hiện, tác động đến ngân sách và cơ chế kiểm soát, tránh chồng chéo, trùng lặp với các chính sách ưu đãi hiện hành.
Thứ tư, về bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể sáng tạo, đại biểu cho rằng, đây phải là một trong những nội dung cốt lõi của Luật. Công nghiệp văn hóa phát triển dựa trên tài năng, ý tưởng và tài sản trí tuệ. Vì vậy, nếu chỉ chú trọng ưu đãi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp mà chưa quan tâm đúng mức đến quyền lợi của tác giả, nghệ sĩ, nhà thiết kế và những người trực tiếp sáng tạo thì chính sách sẽ thiếu cân bằng.
Thực tế, nhiều chủ thể sáng tạo, nhất là cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, còn gặp khó khăn trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, định giá sản phẩm, đàm phán hợp đồng và phân chia lợi ích khi tác phẩm được khai thác thương mại. Đặc biệt, sự phát triển của các nền tảng số và trí tuệ nhân tạo đang đặt ra những thách thức mới đối với việc sử dụng, khai thác và bảo vệ tác phẩm sáng tạo.
Đại biểu đề nghị dự án Luật quan tâm hơn đến các cơ chế hỗ trợ chủ thể sáng tạo trong việc xác lập, bảo hộ, định giá và khai thác tài sản trí tuệ; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý, giải quyết tranh chấp; đồng thời thúc đẩy sự minh bạch trong hợp đồng và phân chia lợi ích.
Những nội dung này cần được thiết kế thống nhất với pháp luật về sở hữu trí tuệ, nhưng phải có giải pháp đủ cụ thể để người sáng tạo thực sự được hưởng lợi từ thành quả lao động của mình.
Ủng hộ việc sớm hoàn thiện và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ các cơ chế đặc thù về đầu tư, đất đai và tài chính theo hướng ưu đãi có điều kiện, minh bạch, có kiểm soát; đồng thời đặt quyền và lợi ích của chủ thể sáng tạo ở vị trí trung tâm.
"Tinh thần chung là chính sách phải đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư, đủ thông thoáng để khuyến khích sáng tạo, nhưng cũng phải đủ chặt chẽ để bảo vệ nguồn lực công và ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách. Có như vậy, Luật mới thực sự tạo động lực cho công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước", đại biểu bày tỏ.
Phát huy giá trị công trình văn hóa, bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh
Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Lưu Nam Tiến nhấn mạnh, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đi mới nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về đầu tư phát triển văn hóa; phát huy văn hóa, sức mạnh mềm và nguồn lực văn hóa trong phát triển đất nước, gắn văn hóa với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
Cơ bản đồng tình với định hướng của dự thảo Luật, đại biểu cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp trong phát triển công nghiệp văn hóa tại các công trình có tính chất đặc thù, nhất là công trình thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Thực tế, các công trình thuộc lĩnh vực này có sự đa dạng về chức năng, nhiệm vụ và mục đích sử dụng, đồng thời chịu những yêu cầu riêng về quản lý, bảo vệ.
Bên cạnh các công trình phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, có những công trình như bảo tàng quân sự, trung tâm văn hóa, thể thao có tiềm năng phát huy giá trị văn hóa, phục vụ công chúng và phát triển công nghiệp văn hóa.
Do đó, theo đại biểu, việc xem xét tổ chức hoạt động công nghiệp văn hóa không nên chỉ căn cứ vào việc công trình có thuộc phạm vi quản lý của quân đội hay không, mà cần đánh giá mức độ phù hợp với công năng, yêu cầu quản lý, bảo vệ và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của từng công trình.
Nếu chỉ dựa vào tiêu chí công trình phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thì có thể chưa bao quát đầy đủ những trường hợp cần được bảo vệ theo chế độ đặc thù. Ngược lại, nếu loại trừ toàn bộ công trình thuộc quân đội thì có thể hạn chế khả năng phát huy giá trị văn hóa tại những công trình có đủ điều kiện.
Từ đó, đại biểu đề nghị quy định theo hướng bảo đảm việc tổ chức hoạt động công nghiệp văn hóa phải phù hợp với công năng, yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật, an toàn, an ninh của công trình; đồng thời đáp ứng các yêu cầu về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự và bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, vừa tạo điều kiện phát huy giá trị của các công trình có tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa, tránh cách hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng loại trừ một cách máy móc.

Về xây dựng Hạ tầng số văn hóa quốc gia, đại biểu Lưu Nam Tiến nhất trí với chủ trương tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu, tạo điều kiện số hóa, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý, kết nối, chia sẻ dữ liệu không đồng nghĩa với việc mọi dữ liệu đều có thể được chia sẻ với cùng phạm vi và mức độ tiếp cận.
Trong lĩnh vực quốc phòng, có những dữ liệu về bảo tàng, di tích và tư liệu lịch sử quân sự cần được số hóa, khai thác để phát huy giá trị văn hóa. Song, cũng có những dữ liệu cần được quản lý chặt chẽ, hạn chế tiếp cận và tuân thủ chế độ bảo vệ đặc thù theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, cùng với việc phát triển hạ tầng số và thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu, cần xác định rõ phạm vi dữ liệu được phép chia sẻ, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình cung cấp, khai thác, sử dụng dữ liệu.
Theo đại biểu, pháp luật hiện hành đã có những quy định điều chỉnh về dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước. Tuy nhiên, để bảo đảm thống nhất trong quá trình triển khai, dự thảo Luật cần thể hiện rõ nguyên tắc kết nối, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm đúng thẩm quyền và phạm vi khai thác, sử dụng.
Đại biểu cũng đề nghị nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước trong quá trình xây dựng, vận hành và khai thác Hạ tầng số văn hóa quốc gia, bên cạnh các yêu cầu về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu.
Theo đại biểu, việc làm rõ những nguyên tắc này không nhằm tạo thêm thủ tục hành chính hay hạn chế kết nối, chia sẻ dữ liệu, mà hướng tới phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, bảo đảm dữ liệu được khai thác hiệu quả, phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời không ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.

RSS