Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển trong kỷ nguyên mới

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

VHO - Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đánh giá kết quả bước đầu sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, đồng thời chỉ rõ những khoảng trống, điểm nghẽn và nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Bài phát biểu không chỉ tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt của văn hóa, mà còn đặt ra một yêu cầu cấp thiết: Phải chuyển mạnh từ nhận thức đúng sang hành động hiệu quả, từ nguồn tài nguyên văn hóa phong phú sang năng lực sáng tạo, sức mạnh mềm và động lực phát triển thực chất của đất nước.

Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển trong kỷ nguyên mới - ảnh 1
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại phiên họp

Từ vị trí trung tâm trong nhận thức đến vị trí trung tâm trong phát triển

Sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, có thể nhận thấy một chuyển động tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương đã được thiết lập; 100% Bộ, ngành, địa phương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; 34/34 tỉnh, thành phố ban hành chương trình hành động. Nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành, từng bước tạo dựng nền tảng chính trị, pháp lý và tổ chức cho phát triển văn hóa.

Những kết quả ấy cho thấy văn hóa đang được đặt ở vị trí cao hơn, rõ hơn trong chương trình nghị sự quốc gia. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa sâu sắc trong bài phát biểu kết luận không chỉ là sự ghi nhận những việc đã làm được, mà chính là thái độ nhìn thẳng vào những hạn chế đang tồn tại.

Khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình hành động đến tác động thực tế vẫn còn khá lớn. Trong khi toàn bộ địa phương đã hoàn thành chương trình hành động, vẫn còn một số cơ quan Trung ương chưa hoàn thành. Nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện mới khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi yêu cầu đặt ra là tối thiểu 2%. Những con số ấy đặt ra một câu hỏi rất thực tế: Văn hóa đã thực sự trở thành ưu tiên trong phân bổ nguồn lực hay mới chủ yếu được khẳng định trong nhận thức và diễn ngôn?

Chúng ta không thể xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển, nhưng vẫn đầu tư cho văn hóa theo tư duy “phần còn lại”. Không thể đặt văn hóa ở trung tâm của những bài phát biểu, nhưng lại ở vị trí ngoại vi trong phân bổ ngân sách, đất đai, nhân lực, công nghệ và hạ tầng.

Đầu tư cho văn hóa không phải là một khoản chi mang tính trang trí cho phát triển. Đó là đầu tư cho chất lượng con người, cho niềm tin xã hội, cho đạo đức công vụ, đạo đức kinh doanh, cho sự sáng tạo và khả năng tự bảo vệ của cộng đồng trước những biến động của thời đại.

Một đất nước có thể phát triển nhanh nhờ kinh tế, khoa học và công nghệ, nhưng chỉ có thể phát triển bền vững khi có một nền tảng văn hóa lành mạnh. Kinh tế giúp tạo ra của cải, công nghệ mở rộng năng lực, còn văn hóa giúp con người xác định sử dụng những thành quả ấy vì mục đích gì, theo những chuẩn mực nào và vì lợi ích của ai.

Vì vậy, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là một trụ cột phát triển không chỉ là thay đổi về cách diễn đạt. Đó là sự thay đổi trong toàn bộ cách thức hoạch định chính sách.

Văn hóa phải hiện diện trong các quyết sách về kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia. Mỗi chính sách lớn cần được xem xét không chỉ ở hiệu quả kinh tế trước mắt, mà còn ở ảnh hưởng đối với con người, cộng đồng, bản sắc và hệ giá trị xã hội. Một dự án đô thị không thể chỉ được đánh giá bằng mật độ xây dựng, giá trị đất đai hay tốc độ hoàn thành, mà còn phải được xem xét ở khả năng bảo vệ ký ức, cảnh quan, không gian công cộng và sự gắn kết cộng đồng. Một chính sách phát triển công nghệ không thể chỉ quan tâm đến năng suất, mà phải chú ý đến đạo đức số, quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và tác động đối với lối sống. Một chiến lược kinh tế không thể chỉ tạo ra tăng trưởng mà làm suy giảm niềm tin, gia tăng bất bình đẳng hoặc phá vỡ những quan hệ xã hội tốt đẹp.

Đặt văn hóa ở trung tâm, vì thế, không có nghĩa là bổ sung thêm các hoạt động văn nghệ vào mỗi chương trình phát triển. Điều quan trọng hơn là làm cho các giá trị văn hóa trở thành hệ điều tiết, để kinh tế phát triển nhưng không vô cảm; xã hội hiện đại nhưng không mất gốc; hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan; con người tiếp cận công nghệ mới nhưng không đánh mất phẩm giá và trách nhiệm.

Bài phát biểu chỉ ra “bốn khoảng trống” lớn: Khoảng trống về sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam trên không gian số; khoảng trống trong chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; khoảng trống giữa vốn văn hóa phong phú với năng lực tạo ra sản phẩm cạnh tranh; khoảng trống về thể chế, thị trường, nhân lực và nguồn lực cho công nghiệp văn hóa. Đó thực chất là khoảng cách giữa những gì chúng ta đang có với những gì chúng ta có khả năng tạo ra.

Việt Nam không thiếu lịch sử, di sản, truyền thống hay tài năng. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ mạnh để chuyển hóa những nguồn lực ấy thành tác phẩm, sản phẩm, thương hiệu và những giá trị có sức lan tỏa trong đời sống hiện đại.

Nhận diện đúng các khoảng trống không phải để bi quan, mà để xác định chính xác nơi cần tạo đột phá. Một quốc gia muốn đi nhanh phải biết mình đang vướng ở đâu; muốn đi xa phải đủ bản lĩnh sửa chữa những điểm yếu trong chính năng lực phát triển của mình.

Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển trong kỷ nguyên mới - ảnh 2

Nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục “4 khoảng trống”

“Khoảng trống thứ nhất, đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số. Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam.

Khoảng trống thứ hai, là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước.

Khoảng trống thứ ba, là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Chúng ta có một kho tàng văn hóa phong phú, nhưng chưa tạo ra được nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, trò chơi, nội dung số có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khoảng cách giữa vốn văn hóa lớn với năng lực sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa vẫn còn đáng kể. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ để biến văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế của quốc gia.

Khoảng trống thứ tư, là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP. Khoảng cách ấy cho thấy chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia”.

Quán triệt thêm “3 chuyển dịch lớn”, phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

“Thứ nhất, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.

Thứ hai, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc.

Thứ ba, chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia”.

(Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm)

Làm cho văn hóa Việt Nam sống động trong không gian số

Một trong những yêu cầu mới, có ý nghĩa chiến lược được đặt ra là xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam từng nhiều lần phải đối diện với nguy cơ đồng hóa bằng sức mạnh cưỡng bức. Nhưng cũng chính nhờ sức sống bền bỉ của văn hóa mà dân tộc ta vẫn giữ được tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập.

Ngày nay, thách thức không còn diễn ra chủ yếu bằng sự áp đặt. Nó đến từ sức hấp dẫn của sản phẩm, nền tảng, hình ảnh, lối sống và những dòng nội dung xuyên biên giới. Đó là một cuộc cạnh tranh mềm, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thị hiếu, hành vi và hệ giá trị của con người.

Dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng tham gia sâu vào việc quyết định con người nhìn thấy gì, quan tâm đến điều gì và dần hình thành những chuẩn mực nào. Một nội dung được thuật toán ưu tiên có thể đến với hàng triệu người trong vài giờ. Một hình tượng được lặp lại đủ nhiều có thể trở thành chuẩn mực thẩm mỹ. Một cách diễn giải lịch sử được phổ biến rộng rãi có thể ảnh hưởng đến cách một thế hệ nhìn nhận quá khứ.

Trong bối cảnh ấy, chủ quyền văn hóa không chỉ là bảo vệ di tích, ngôn ngữ, lễ hội hay phong tục. Chủ quyền văn hóa còn là quyền và năng lực làm chủ dữ liệu, nền tảng, nội dung và câu chuyện về chính mình.

Nếu dữ liệu văn hóa Việt Nam nghèo nàn, phân tán, thiếu chuẩn hóa, thì không chỉ công chúng mà ngay cả các hệ thống trí tuệ nhân tạo trong tương lai cũng có thể hiểu thiếu, hiểu sai hoặc tái tạo méo mó hình ảnh Việt Nam. Khi đó, câu chuyện về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam có nguy cơ được kể chủ yếu qua những nguồn thông tin do bên ngoài kiến tạo. Vì thế, xây dựng chủ quyền văn hóa số trước hết phải bắt đầu từ dữ liệu văn hóa.

Chúng ta cần hình thành những kho dữ liệu chuẩn xác về tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, hiện vật bảo tàng, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.

Bài phát biểu đã nhấn mạnh rất rõ rằng một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Nếu dữ liệu vẫn nằm yên trong những kho khép kín, không phục vụ quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, sáng tạo và phát triển trí tuệ nhân tạo, thì số hóa mới chỉ là sự thay đổi hình thức lưu trữ.

Số hóa phải tạo ra tri thức mới và giá trị mới. Một di sản được số hóa đúng nghĩa phải giúp học sinh ở vùng xa có thể tiếp cận bảo vật quốc gia; giúp nhà nghiên cứu tìm kiếm tư liệu chính xác; giúp nghệ sĩ có thêm nguồn chất liệu sáng tạo; giúp doanh nghiệp phát triển sản phẩm; giúp du khách có trải nghiệm sâu sắc hơn và giúp công nghệ hiểu đúng hơn về Việt Nam.

Từ một bộ dữ liệu được tổ chức tốt, có thể hình thành bài giảng tương tác, bảo tàng ảo, phim hoạt hình, trò chơi điện tử, sản phẩm thiết kế, tuyến du lịch thông minh và nhiều ứng dụng khác. Khi ấy, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục sinh thành giá trị trong đời sống đương đại.

Tuy nhiên, số hóa và khai thác di sản phải gắn liền với quyền lợi của cộng đồng. Đằng sau mỗi làn điệu dân gian là những nghệ nhân; đằng sau một lễ hội là ký ức của một cộng đồng; đằng sau một nghề thủ công là sinh kế của nhiều gia đình. Di sản không phải là tài nguyên vô chủ để bất kỳ ai cũng có thể khai thác mà không cần quan tâm đến những người đã sáng tạo, thực hành và trao truyền nó qua nhiều thế hệ.

Khi chất liệu văn hóa được sử dụng trong điện ảnh, thời trang, trò chơi, du lịch hay các sản phẩm thương mại, phải có cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.

Chỉ khi người dân được hưởng lợi từ di sản, họ mới có thêm động lực gìn giữ. Chỉ khi nghệ nhân có thể sống được bằng nghề, tri thức của họ mới có cơ hội được trao truyền. Một di sản khó có thể tồn tại bền vững nếu chính những người nắm giữ di sản phải rời bỏ nó để mưu sinh.

Xây dựng chủ quyền văn hóa số cũng không thể chỉ dựa vào việc ngăn chặn các nội dung xấu. Điều quan trọng hơn là tạo ra nhiều nội dung tốt, hay và có sức hấp dẫn. Văn hóa không thể lan tỏa chỉ bằng mệnh lệnh. Sức mạnh tự nhiên nhất của văn hóa chính là sức hấp dẫn.

Người trẻ là điểm nhấn đặc biệt trong cuộc cạnh tranh ấy. Nhưng sẽ không công bằng nếu chỉ phê phán giới trẻ vì họ hiểu biết và yêu thích văn hóa nước ngoài. Câu hỏi cần đặt ra cho những người làm chính sách, nhà quản lý, nghệ sĩ, nhà giáo dục và doanh nghiệp là: chúng ta đã tạo ra đủ nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam hiện đại, giàu cảm xúc và đủ sức chinh phục họ hay chưa?

Người trẻ không quay lưng với lịch sử. Họ chỉ khó kiên nhẫn với những cách kể thiếu sức sống. Họ không chối bỏ truyền thống. Họ chỉ mong truyền thống được đối thoại với hiện tại bằng điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, hoạt hình, trò chơi và những ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại.

Không thể yêu cầu người trẻ yêu văn hóa dân tộc chỉ bằng lời kêu gọi. Tình yêu ấy phải được đánh thức bằng những trải nghiệm đẹp. Một bộ phim lịch sử hấp dẫn có thể đưa quá khứ đến gần hơn với hàng triệu khán giả. Một trò chơi điện tử tốt có thể mang theo kiến trúc, âm nhạc và huyền thoại Việt Nam. Một thiết kế hiện đại có thể giúp hoa văn truyền thống bước ra khỏi kho lưu trữ để hiện diện trong cuộc sống. Một ca khúc sử dụng chất liệu dân gian có thể làm sống lại những âm thanh tưởng như đã xa xưa. Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng di sản. Bảo tồn tốt nhất là làm cho di sản tiếp tục được yêu thích, thực hành, sáng tạo và trao truyền.

Chuyển sức mạnh văn hóa thành sức sản xuất mới

Mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045 thể hiện một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển: Văn hóa không chỉ là lĩnh vực thụ hưởng thành quả kinh tế, mà còn trực tiếp tham gia tạo ra tăng trưởng, việc làm, thu nhập, tài sản trí tuệ và uy tín quốc gia. Tuy nhiên, không thể biến công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng chỉ bằng cách nhấn mạnh tiềm năng.

Việt Nam có nguồn vốn văn hóa phong phú, nhưng khoảng cách giữa vốn văn hóa và sản phẩm cạnh tranh vẫn còn lớn. Chúng ta có nhiều câu chuyện hay, nhiều biểu tượng độc đáo, nhiều nghệ sĩ tài năng, nhưng chưa tạo ra đủ những thương hiệu, tác phẩm, nhân vật và định dạng sáng tạo có khả năng chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới.

Vấn đề không phải là thiếu chất liệu, mà là thiếu một hệ sinh thái để chuyển chất liệu thành sản phẩm, chuyển sáng tạo thành tài sản, chuyển tài sản thành thị trường. Trước hết, cần hoàn thiện thể chế theo tinh thần chuyển từ quản lý để kiểm soát sang quản lý để kiến tạo phát triển. Việc xây dựng Luật Bản quyền tác giả, Luật Hoạt động nghệ thuật, Luật Công nghiệp văn hóa và nghiên cứu Luật Văn học không nên chỉ được nhìn như việc bổ sung thêm các đạo luật. Mục đích cao hơn là tạo ra một môi trường trong đó quyền sáng tạo được bảo vệ, tài sản trí tuệ được định giá, doanh nghiệp yên tâm đầu tư và thị trường vận hành minh bạch.

Tài sản quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa không phải lúc nào cũng là nhà xưởng hay máy móc. Giá trị lớn nhất thường nằm trong tác phẩm, thương hiệu, nhân vật, thiết kế, dữ liệu và bản quyền. Nếu những tài sản ấy không được xác lập, bảo vệ, định giá và giao dịch, thì doanh nghiệp sáng tạo khó tiếp cận vốn và khó đầu tư dài hạn.

Cơ chế tài chính cũng phải phù hợp với đặc thù của sáng tạo. Không thể áp dụng hoàn toàn tư duy quản lý đầu tư xây dựng cho hoạt động điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn hay trò chơi điện tử. Sáng tạo luôn có rủi ro; không phải tác phẩm nào được đầu tư cũng thành công. Nhưng nếu vì sợ rủi ro mà chỉ lựa chọn những phương án an toàn, chúng ta có thể có nhiều sản phẩm đúng quy trình nhưng rất ít tác phẩm thực sự có khả năng tạo ra đột phá.

Nhà nước không thể và không nên làm thay nghệ sĩ, doanh nghiệp hay cộng đồng. Vai trò của Nhà nước là xây dựng luật chơi công bằng, đầu tư cho hạ tầng nền tảng, bảo vệ quyền tác giả, đào tạo nhân lực, hỗ trợ những lĩnh vực thị trường chưa thể tự bảo đảm và đặt hàng các tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật và xã hội cao.

Bên cạnh thể chế là yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu và chỉ số thống kê về công nghiệp văn hóa. Chúng ta phải đo được đóng góp của từng ngành, từng địa phương; doanh thu, xuất khẩu, việc làm, thu nhập, giá trị bản quyền và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị. 

Không đo lường được thì khó quản trị. Không có dữ liệu đáng tin cậy thì khó phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm. Không có phương pháp thống nhất thì khó biết lĩnh vực nào đang có lợi thế, chính sách nào hiệu quả và địa phương nào có khả năng dẫn dắt.

Đặc biệt, yêu cầu mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt thể hiện tinh thần rất đúng: Chống dàn trải, chống phong trào và chống sao chép mô hình.

Không phải địa phương nào cũng cần xây dựng một trung tâm công nghiệp văn hóa giống nhau. Hà Nội phải phát huy lợi thế của một Thủ đô nghìn năm văn hiến, thành phố sáng tạo và trung tâm lớn về thiết kế, nghệ thuật, giáo dục, truyền thông. Thành phố Hồ Chí Minh có thế mạnh về thị trường, công nghệ và giải trí. Huế có lợi thế đặc biệt về di sản, cảnh quan, lễ hội và nghệ thuật truyền thống. Đà Nẵng có thể kết hợp du lịch, công nghệ và sáng tạo nội dung. Mỗi địa phương cần tìm ra bản sắc cạnh tranh riêng và liên kết với nhau để hình thành chuỗi giá trị.

Nếu địa phương nào cũng làm phố đi bộ, lễ hội ánh sáng, trung tâm sáng tạo theo cùng một khuôn mẫu, chúng ta sẽ tạo ra sự trùng lặp chứ chưa tạo nên một hệ sinh thái đa dạng.

Mỗi dự án dẫn dắt phải trả lời rõ: sản phẩm là gì, doanh nghiệp nào thực hiện, nguồn vốn từ đâu, thị trường ở đâu, tài sản trí tuệ thuộc về ai, tạo ra bao nhiêu việc làm và đóng góp thế nào cho tăng trưởng, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.

Công nghiệp văn hóa cũng không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Một sản phẩm có doanh thu cao nhưng làm nghèo đời sống tinh thần, cổ súy bạo lực, sự dung tục hoặc lối sống lệch chuẩn chưa thể được xem là một thành công đầy đủ. Giá trị kinh tế phải đi cùng giá trị nghệ thuật, trách nhiệm xã hội và bản sắc dân tộc. Điều chúng ta cần là điểm gặp giữa nghệ thuật và thị trường, giữa sáng tạo và trách nhiệm, giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ toàn cầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Trong kỷ nguyên mới, văn hóa không chỉ soi đường trong việc hoàn thiện nhân cách con người, mà còn phải góp phần định hướng con đường phát triển của đất nước.

Để làm được điều đó, văn hóa phải hiện diện trong mỗi quyết sách, trong môi trường sống, trong không gian số và trong những sản phẩm có khả năng chinh phục công chúng. Văn hóa phải đủ chiều sâu để giúp con người Việt Nam không đánh mất mình, đủ sức hấp dẫn để được yêu thích, đủ sáng tạo để trở thành tài sản và đủ năng lực cạnh tranh để bước ra thế giới.

Từ di sản đến dữ liệu, từ dữ liệu đến tri thức, từ tri thức đến tài sản trí tuệ, từ tài sản trí tuệ đến sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm - đó là chuỗi chuyển hóa cần được khơi thông.

Khi chuỗi chuyển hóa ấy được vận hành bằng một thể chế tiến bộ, một hệ sinh thái sáng tạo lành mạnh và sự tham gia chủ động của toàn xã hội, văn hóa sẽ không chỉ là những giá trị được trao truyền từ quá khứ. Văn hóa sẽ thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới