Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật
VHO - Chiều nay, 5.1.2026, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 13 luật đã được Quốc hội khoá XV thông qua. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, trợ lí Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì họp báo.
13 luật được công bố gồm: Luật Tương trợ tư pháp về dân sự; Luật Giám định tư pháp; Luật Thi hành án dân sự; Luật Dân số; Luật Phòng bệnh; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Công nghệ cao; Luật Chuyển đổi số; Luật Xây dựng; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.

Khung pháp lý cho phát triển và ứng dụng AI an toàn, có trách nhiệm
Luật Trí tuệ nhân tạo được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.3.2026. Luật gồm 8 chương, 35 điều, được xây dựng nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo (AI) tại Việt Nam theo hướng an toàn, có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Luật thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời bảo đảm sự thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luật được xây dựng theo định hướng là luật khung, tập trung vào các nguyên tắc cốt lõi, không chồng chéo chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, bảo đảm tính khả thi và linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Về nội dung, Luật quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc phát triển và sử dụng AI, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an toàn, minh bạch, tôn trọng quyền con người và sự kiểm soát của con người đối với các quyết định của hệ thống AI. Một điểm quan trọng của Luật là thiết lập cơ chế phân loại và quản lý hệ thống AI theo mức độ rủi ro, từ rủi ro thấp đến rủi ro cao, qua đó áp dụng các yêu cầu quản lý, đánh giá sự phù hợp và giám sát tương ứng.
Luật cũng dành nội dung quan trọng cho phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền trí tuệ nhân tạo quốc gia, trong đó quy định việc xây dựng hạ tầng tính toán, dữ liệu dùng chung, trung tâm dữ liệu quốc gia về AI; ưu tiên phát triển công nghệ lõi, mô hình ngôn ngữ lớn, thúc đẩy mã nguồn mở, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian số. Song song với đó là các quy định về ứng dụng AI gắn với phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực, bao gồm cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” (sandbox), chính sách hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp và đào tạo nhân lực AI.

Luật Trí tuệ nhân tạo cũng nhấn mạnh đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động AI, quy định rõ nghĩa vụ của các chủ thể liên quan, cơ chế thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi AI gây ra hậu quả. Qua đó, Luật tạo nền tảng pháp lý quan trọng để AI phát triển lành mạnh, bền vững, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Hoàn thiện nền tảng pháp lý cho phát triển xã hội số, kinh tế số và chính phủ số
Luật Chuyển đổi số được ban hành nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22.12.2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác định thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước, đồng thời đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh trong chuyển đổi số.
Luật gồm 8 chương, 48 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026, tập trung giải quyết 5 nhóm vấn đề cốt lõi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn và tạo động lực đột phá cho chuyển đổi số quốc gia. Trước hết, Luật thiết lập khung pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số, chuẩn hóa các khái niệm nền tảng như hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống số, môi trường số, chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, qua đó thống nhất nhận thức và tư duy pháp lý về chuyển đổi số.
Luật quy định nguyên tắc và chính sách về chuyển đổi số, đóng vai trò “kim chỉ nam” cho pháp luật chuyên ngành, đồng thời đặt ra các yêu cầu tối thiểu trong thiết kế, kiến trúc hệ thống số nhằm khắc phục tình trạng đầu tư manh mún, rời rạc, thiếu liên thông. Một nội dung quan trọng là thiết lập cơ chế điều phối quốc gia về chuyển đổi số, thông qua việc luật hóa thẩm quyền ban hành Chiến lược quốc gia, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Luật cũng luật hóa các cơ chế về tài chính và nhân lực số, trong đó quy định cam kết chi cho chuyển đổi số hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước; đồng thời có cơ chế đặc thù cho các hoạt động thử nghiệm, dự án đổi mới sáng tạo chưa có tiền lệ. Bên cạnh đó là các quy định về phát triển hạ tầng số, hệ thống số dùng chung quốc gia và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Ngoài ra, Luật thiết lập cơ chế đánh giá, đo lường và công khai kết quả chuyển đổi số định kỳ, làm căn cứ điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực, bảo đảm chuyển đổi số được triển khai toàn diện, hiệu quả và bền vững.
Lấy công nghệ chiến lược làm đột phá cho năng lực tự chủ và cạnh tranh quốc gia
Luật Công nghệ cao gồm 6 chương, 27 điều, được ban hành nhằm thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc lấy công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ chiến lược, làm đột phá để tăng cường năng lực tự chủ và lợi thế cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.

Luật xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý công nghệ cao, trong đó làm rõ khái niệm công nghệ cao, tiêu chí xác định công nghệ cao và danh mục công nghệ cao ưu tiên phát triển. Một nội dung trọng tâm của Luật là chính sách của Nhà nước trong phát triển công nghệ cao, bao gồm ưu đãi về đầu tư, tài chính, thuế, đất đai và tín dụng nhằm thu hút nguồn lực xã hội cho lĩnh vực này.
Luật quy định rõ phát triển hạ tầng, cơ sở nghiên cứu và khu công nghệ cao, khuyến khích hình thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Đồng thời, Luật nhấn mạnh việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, thông qua đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường và chiến lược phát triển quốc gia.
Bên cạnh đó, Luật làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về công nghệ cao, phân định thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách. Các quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao cũng được chú trọng, nhằm tiếp thu tri thức, công nghệ tiên tiến của thế giới, đồng thời bảo vệ lợi ích và an ninh công nghệ quốc gia.
Thông qua việc ban hành Luật Công nghệ cao, Nhà nước tạo nền tảng pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Luật Công nghệ cao có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026.

RSS