Từ hành trình 555 năm, nhận diện chiều sâu lịch sử và văn hóa xứ Quảng
VHO - Từ vị thế của một thương cảng quốc tế từng giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thương Đông Á, Đông Nam Á đến những lớp trầm tích văn hóa hình thành qua nhiều thế kỷ, Hội An và xứ Quảng tiếp tục được nhìn nhận từ những góc tiếp cận mới.

Sáng 22.10, tại phường Hội An, Sở VHTTDL TP. Đà Nẵng phối hợp với Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế tổ chức Hội thảo khoa học “Đô thị thương cảng Hội An và xứ Quảng trong hành trình 555 năm (1471–2026)”, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử mà còn gợi mở cách bảo tồn, phát huy nguồn lực di sản trong không gian phát triển hiện nay của TP. Đà Nẵng.

Phát biểu khai mạc hội thảo, bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng nhấn mạnh ý nghĩa của việc nhìn lại hành trình 555 năm lịch sử xứ Quảng, không chỉ để nhận diện những giá trị văn hóa, di sản đã được bồi đắp, mà còn để tìm kiếm nguồn lực phát triển cho thành phố hôm nay.
Thành phố xác định văn hóa và di sản không chỉ là đối tượng bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững. Công tác gìn giữ những giá trị lịch sử cần gắn với nâng cao chất lượng sống của người dân, đổi mới quản lý và phát huy nguồn lực sáng tạo.
Nhìn lại vị thế xứ Quảng từ những nguồn tư liệu mới
PGS.TS Nguyễn Văn Đăng, nguyên Trưởng khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế cho biết, Ban Tổ chức tiếp nhận 83 tham luận khoa học, lựa chọn 55 tham luận đưa vào kỷ yếu.
Các tham luận được tập hợp thành ba nhóm: 22 nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và vị thế lịch sử của xứ Quảng, đô thị thương cảng Hội An; 25 nghiên cứu về giao thương quốc tế và giao lưu, tiếp biến văn hóa; 8 nghiên cứu về bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay.
Một điểm đáng chú ý của hội thảo là việc nhiều tác giả tiếp cận lịch sử Hội An và xứ Quảng từ nguồn tư liệu trong nước, thư tịch cổ Đông Á, ghi chép của thương nhân, giáo sĩ phương Tây cùng kết quả khảo sát, điền dã tại các địa phương.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Đăng, một số nguồn tư liệu mới được công bố, khai thác từ phương Tây, văn bản Hán Nôm và kết quả khảo sát thực địa đã góp phần bổ sung nhận thức về lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của xứ Quảng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Các nghiên cứu không chỉ tập trung vào sự hưng thịnh của thương cảng Hội An trong các thế kỷ XVI–XVIII mà còn mở rộng cách nhìn về không gian lịch sử, văn hóa từ dấu mốc thành lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam năm 1471.
Trong tham luận về tên gọi vùng đất Quảng Nam nhìn từ bên ngoài, tác giả Vũ Hùng, Hội Khoa học Lịch sử TP. Đà Nẵng khảo cứu những cách ghi chép, phiên âm địa danh trong tư liệu phương Tây đầu thế kỷ XVII, trong đó có các ghi chép của Cristoforo Borri và Francisco de Pina. Những tư liệu này gợi mở thêm hướng nghiên cứu về lịch sử địa danh, sự tiếp xúc ngôn ngữ và cách người nước ngoài nhận diện không gian xứ Quảng.
Từ một hướng khác, TS Huỳnh Bá Lộc, Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Văn Lang nhìn nhận Quảng Nam không chỉ là tên gọi hành chính được xác lập từ năm 1471 mà còn là không gian tích lũy các giá trị văn hóa, xã hội, ký ức cộng đồng và bản sắc vùng miền qua nhiều thế hệ.
Tác giả Nguyễn Nho Khiêm, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật TP. Đà Nẵng, đề xuất khái niệm “không gian văn minh biển xứ Quảng”. Theo đó, lịch sử vùng đất được hình thành trong sự tương tác giữa địa lý sông biển, thiết chế quyền lực, mạng lưới thương mại, hệ thống đô thị và các cộng đồng cư dân.
Từ những cách tiếp cận này, Hội An và xứ Quảng hiện lên không đơn thuần qua các biến động địa giới hay sự thịnh suy của một cảng thị, mà là không gian lịch sử - văn hóa có tính liên tục, cởi mở và khả năng thích ứng qua nhiều thời kỳ. Các ý kiến, tham luận, trao đổi tại hội thảo cũng đặt vấn đề cần tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa không gian hành chính Quảng Nam trong lịch sử với không gian văn hóa và đô thị Đà Nẵng hiện nay.
Thương cảng Hội An trong mạng lưới giao thương và tiếp biến văn hóa
Từ các nghiên cứu, vị thế của Hội An được nhìn nhận rõ hơn trong mạng lưới thương mại khu vực và quốc tế. Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, cảng thị này từng kết nối nguồn hàng, tuyến vận chuyển và cộng đồng thương nhân, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại của Đàng Trong.
Theo TS Trương Thị Hải, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, qua nghiên cứu thương cảng Hội An trong mạng lưới thương mại quốc tế thế kỷ XVI–XVIII đã nhấn mạnh vai trò trung chuyển và kết nối các dòng thương mại khu vực, góp phần thúc đẩy quá trình thương mại hóa nền kinh tế Đàng Trong.

Đáng chú ý, các nghiên cứu về hệ thống nguồn hàng và điểm tập kết ven sông, cửa biển cho thấy sự phồn thịnh của Hội An không chỉ dựa vào lợi thế của một cửa ngõ giao thương quốc tế.
TS Lưu Anh Rô, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị TP. Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP. Đà Nẵng khảo cứu các điểm tập kết ở bờ nam Cửa Đại, làm rõ vai trò của mạng lưới giao thông thủy nối miền núi, trung du, đồng bằng với cửa biển. Trung Phường, Trà Nhiêu là những điểm tập kết hàng hóa, vệ tinh trong không gian thương cảng.
Từ đó, diện mạo Hội An được nhận diện không chỉ qua những tuyến phố buôn bán và bến thuyền, mà còn qua quan hệ với vùng cung cấp sản vật, các làng nghề và cộng đồng cư dân trên một không gian rộng lớn.
Bên cạnh đó, 25 tham luận của nhóm chủ đề thứ hai tiếp cận quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến giữa người Việt, Chăm, Hoa, Nhật Bản cùng các nhóm cư dân phương Tây. Những khảo cứu về phố Nhật Bản, tín ngưỡng, tôn giáo, thư tịch cổ, nghề truyền thống và hình thức giao lưu văn hóa giúp nhận diện tính đa dạng của đời sống xã hội xứ Quảng.
Một hướng tiếp cận đáng chú ý là việc nhìn nhận không gian hình thành chữ Quốc ngữ. Trong nghiên cứu về mạng lưới thương cảng từ Hội An đến Nước Mặn thời chúa Nguyễn, TS Võ Minh Hải và ThS. Nguyễn Văn Hòa, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quy Nhơn nhấn mạnh sự cộng tác, trao đổi và luân chuyển tri thức giữa Hội An, Thanh Chiêm, Nước Mặn, Ma Cao và các trung tâm hoạt động của Dòng Tên, thay vì quy quá trình này về một địa điểm duy nhất.
Cùng với các nghiên cứu về âm nhạc Việt - Chăm, tín ngưỡng thờ Mẫu trong giao lưu Việt - Chăm - Hoa và văn hóa truyền thống của người Cơ Tu, cách tiếp cận ấy cho thấy thương cảng không chỉ là điểm đến của hàng hóa mà còn là nơi hội tụ, trao đổi và sáng tạo tri thức, văn hóa. Giá trị Hội An vì vậy không chỉ đo bằng quy mô giao thương trong quá khứ mà còn ở khả năng tiếp nhận và dung hòa nhiều dòng văn hóa.
Gợi mở hướng bảo tồn, phát huy nguồn lực di sản
Không dừng ở việc nhận diện lịch sử, hội thảo còn dành sự quan tâm cho các thách thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh phát triển mới của TP. Đà Nẵng. Nhóm tham luận về chủ đề này đề cập quản lý di sản, du lịch bền vững, chuyển đổi số, di sản tư liệu, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa.

Một vấn đề xuyên suốt là yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn không gian lịch sử - văn hóa với hoạt động du lịch và đời sống cộng đồng. TS Đỗ Thị Ngọc Uyển, Khoa Văn hóa và Du lịch, Trường Đại học Sài Gòn đề xuất vận dụng cách tiếp cận cảnh quan đô thị lịch sử (HUL), kết nối bảo tồn di sản với quản lý sức chứa điểm đến, giáo dục, truyền thông và sự tham gia của cư dân.
Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, TS Hà Thị Sương, Bảo tàng Đà Nẵng, đề xuất mở rộng vai trò của bảo tàng, từ nơi lưu giữ hiện vật trở thành thiết chế kiến tạo tri thức, hạ tầng dữ liệu văn hóa và trung tâm kết nối sáng tạo. Những gợi mở này cho thấy cộng đồng, tri thức, công nghệ và hoạt động sáng tạo ngày càng quan trọng đối với việc phát huy giá trị văn hóa.
Trong khi đó, PGS.TS. Nguyễn Văn Đăng cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, kiểm kê, phân loại, xếp hạng di sản; quan tâm cơ chế quản lý, đầu tư, thiết chế văn hóa và chính sách trọng dụng nhân lực phù hợp. Đồng thời, cần làm rõ sự chuyển tiếp giữa các không gian đô thị Hội An, Đà Nẵng qua các thời kỳ, nhận diện những vấn đề mới phát sinh trong quá trình bảo tồn gắn với chuyển đổi số và phát triển kinh tế di sản.
Những kiến nghị từ giới nghiên cứu là cơ sở quan trọng để thành phố tiếp tục hoàn thiện định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi cho biết thành phố trân trọng ghi nhận và sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến, đề xuất khoa học có giá trị, xem đây là cơ sở thực tiễn và lý luận để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn, phát huy di sản và hoạch định chính sách phát triển văn hóa.
Từ hành trình 555 năm, những nghiên cứu về Hội An và xứ Quảng không chỉ bổ sung bằng chứng về một vùng đất từng giữ vị trí quan trọng trong giao thương quốc tế, mà còn giúp nhận diện sự tiếp nối của các cộng đồng và những lớp văn hóa qua nhiều thế hệ.
Đối với Đà Nẵng hôm nay, giá trị của hội thảo còn ở những câu hỏi khoa học được đặt ra: làm thế nào để chiều sâu lịch sử được gìn giữ, tiếp nối và phát huy thành nguồn lực thực chất cho sự phát triển bền vững của thành phố.

RSS