Hành trình dệt sử ca đất Cảng: Mạch nguồn văn hiến trên đất học Vĩnh Bảo:

Kỳ 2 - Từ lời sấm truyền định hình giang sơn đến mạch nguồn tự cường

THANH HUYỀN

VHO - Những lời sấm truyền gắn với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm qua nhiều thế hệ đã trở thành một phần đặc biệt trong ký ức văn hóa dân tộc, gắn với những bước ngoặt lớn của lịch sử. Từ mạch tư tưởng về vận nước, dân tộc và chủ quyền, hành trình tìm về di sản của Trạng Trình tiếp tục mở ra những lớp văn hiến được trao truyền, bồi đắp qua thời gian.

Kỳ 2 - Từ lời sấm truyền định hình giang sơn đến mạch nguồn tự cường - ảnh 1
Tượng đài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Thành phố Hải Phòng

Những ngả rẽ xoay chuyển vận mệnh dân tộc

Những lời sấm truyền gắn với Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lâu đã được lưu truyền trong dân gian, gắn với nhiều bước ngoặt của lịch sử dân tộc. Từ câu chuyện khuyên nhà Mạc lên Cao Bằng lánh nạn binh đao, lời khuyên chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa mở cõi phương Nam, cho đến giai thoại “thờ Phật ăn oản” với Trịnh Kiểm, hình tượng Trạng Trình hiện lên trong tâm thức hậu thế như một bậc trí giả có khả năng nhìn thấu thời cuộc, đưa ra những lời chỉ dẫn trong những thời khắc đất nước đứng trước nhiều ngả rẽ.

Những sấm truyền ấy, qua dòng chảy của thời gian, được diễn giải như sự kết tinh giữa lý số, tư tưởng Kinh Dịch và khả năng nhìn nhận thế cuộc. Dẫu thực hư còn được bao phủ bởi nhiều lớp huyền sử, những câu chuyện về Trạng Trình vẫn góp phần tạo nên một mạch văn hóa đặc biệt, trong đó tri thức, đạo lý và khát vọng an dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm.

Đặc biệt, trong kho tàng sấm truyền về Trạng Trình còn có câu:

“Đụn Sơn phân giải / Bò Đái thất thanh / Thủy đáo Lam thành / Nam Đàn sinh thánh”.

Câu sấm này về sau được nhiều thế hệ diễn giải gắn với những biến chuyển lớn của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Theo lời truyền lại, trong một buổi đàm đạo tại bến Ngự ở Huế, nhà nho Trần Lê Hữu từng hỏi cụ Phan Bội Châu về câu “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, cho rằng câu sấm có thể ứng vào chính cụ Phan. Đào Duy Anh khi đó được kể là cũng có mặt và lắng nghe cuộc đối thoại.

Trước câu hỏi ấy, cụ Phan Bội Châu khiêm tốn gạt đi và cho rằng nếu Nam Đàn thực sự có “thánh” xuất hiện thì người đó không phải mình. Theo lời kể được lưu truyền, cụ Phan đã nhắc đến Nguyễn Ái Quốc:

“Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia... Nếu Nam Đàn có sinh thánh thật thì giả sử như tôi đây đã thất bại, điều đó chứng tỏ tôi chỉ là phàm phu chứ không phải thánh. Theo tôi, vị thánh đó chính là cậu Nguyễn Ái Quốc”.

Lời nhận định ấy, nhìn từ hậu thế, trở thành một chi tiết giàu sức gợi trong câu chuyện về dòng chảy tư tưởng từ các bậc tiền nhân đến thế hệ cách mạng sau này. Từ Trạng Trình, Phan Bội Châu đến Nguyễn Ái Quốc, những câu chuyện được truyền lại cho thấy một mạch quan tâm xuyên suốt: vận mệnh dân tộc, con đường giành độc lập và khát vọng về một đất nước tự cường.

Từ mạch nguồn tư tưởng đến ý thức về chủ quyền biển đảo

Mạch nguồn tư tưởng ấy không chỉ được hậu thế nhìn nhận qua những câu chuyện về sấm truyền, mà còn được nhắc lại trong cách các thế hệ sau trân trọng di sản tinh thần của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Di tích đền thờ Trạng Trình tại Trung Am từng đón nhiều lãnh đạo, học giả và du khách về thăm, dâng hương. Trong đó, ngày 14.2.1996, tức ngày 26 tháng Chạp năm Ất Hợi, trước thềm Tết Nguyên đán Bính Tý, cố Tổng Bí thư Đỗ Mười đã về thăm, dâng hương và lưu bút tại khu di tích.

Hình ảnh người lãnh đạo đứng trước linh vị của một bậc hiền triết từng đau đáu vì dân, vì nước là một sự tiếp nối giàu ý nghĩa. Qua thời gian, những giá trị nhân văn, tinh thần yêu nước, thương dân và ý thức về trách nhiệm với non sông của Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục được hậu thế nhắc nhớ, tiếp nối trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Từ tư tưởng trị quốc, an dân, những câu chuyện về Trạng Trình còn được hậu thế liên hệ với ý thức về chủ quyền và không gian sinh tồn của dân tộc. Trong bài “Cự ngao đới sơn” thuộc tập Bạch Vân thi tập có những câu thơ thường được nhắc đến:

“Biển Đông vạn dặm giang tay giữ,

Đất Việt muôn năm vững trị bình.”

Hai câu thơ ấy, trong cách diễn giải của hậu thế đã trở thành biểu tượng cho ý thức về biển Đông và khát vọng giữ gìn non sông. Từ đó, hình tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ gắn với một nhà tư tưởng, một nhà giáo, một danh nhân văn hóa mà còn được nhìn nhận trong dòng chảy lâu dài của ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước.

Những câu chuyện về Trạng Trình, dù được kể lại qua nhiều lớp huyền sử, vẫn quy về một giá trị cốt lõi: đất nước phải giữ được sự bình yên, độc lập và toàn vẹn cương vực.

Từ mạch nguồn văn hiến đến làng nghề Bảo Hà

Dòng mạch ấy không dừng lại ở không gian học am Bạch Vân. Từ Trung Am, hành trình tìm về những dấu tích văn hiến tiếp tục rẽ sang vùng đất Đồng Minh, nơi có làng nghề tạc tượng cổ truyền Bảo Hà, một địa chỉ văn hóa lâu đời của vùng Vĩnh Bảo.

Theo hành trình của tác giả, Bảo Hà là nơi mạch nguồn văn hiến được tiếp nối bằng một hình thức khác: Qua những đôi tay gìn giữ nghề tạc tượng, những pho tượng lưu giữ ký ức cộng đồng và những tín ngưỡng được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Tương truyền, làng nghề gắn với ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ, người đã học nghề chạm khắc và sơn mài trong thời gian ở Trung Quốc rồi trở về truyền dạy cho dân làng. Bảo Hà cũng lưu giữ pho tượng Đức Linh Lang Đại Vương nổi tiếng với khả năng “đứng lên, ngồi xuống”, một hiện vật gắn với đời sống tín ngưỡng và câu chuyện văn hóa của địa phương.

Từ những trang sấm truyền của Trạng Trình đến những pho tượng được gìn giữ qua nhiều thế hệ, hành trình tìm về mạch nguồn văn hiến trên vùng đất này vẫn chưa dừng lại. Ở Bảo Hà, câu chuyện về những người thợ, những pho tượng và sức sống của một làng nghề cổ truyền sẽ mở ra một lát cắt khác về cách di sản được trao truyền và gìn giữ trong đời sống hôm nay.