Khảo cổ học Đà Nẵng - Từ quá khứ đến nguồn lực phát triển:
Kỳ 2 - Để di sản khảo cổ sống cùng cộng đồng
VHO - Khảo cổ học chỉ phát huy rộng rãi giá trị khi kết quả nghiên cứu đến được với công chúng. Từ các bảo tàng, khu di tích hiện có đến những đề xuất về du lịch khảo cổ, giáo dục di sản và chuyển đổi số, Đà Nẵng có cơ sở để tìm cách kể sinh động hơn về lịch sử vùng đất.
Giá trị của di sản khảo cổ không chỉ nằm ở hiện vật được lưu giữ mà còn ở những tri thức về con người, đời sống và văn hóa được giải mã từ hiện vật ấy. Khi được giới thiệu qua bảo tàng, trường học và hoạt động trải nghiệm, những kết quả nghiên cứu có thể trở thành chất liệu cho giáo dục, du lịch văn hóa và sáng tạo.
Khi lịch sử trở thành trải nghiệm
Tại hội thảo khoa học “Khảo cổ học thành phố Đà Nẵng: Tiềm năng, thực trạng, định hướng quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa” (gọi tắt là hội thảo Khảo cổ học Đà Nẵng), TS. Hoàng Văn Long, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, dẫn chứng kinh nghiệm của nhiều quốc gia đã thành công trong việc khai thác giá trị di sản khảo cổ gắn với phát triển du lịch bền vững, như công viên khảo cổ Pompeii (Ý), quần thể Angkor (Campuchia), các khu di sản Bagan (Myanmar) và Ayutthaya (Thái Lan).
Ở Việt Nam, Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê hay Thành Nhà Hồ là những ví dụ điển hình về việc kết hợp bảo tồn với khai thác, phát triển hiệu quả sản phẩm du lịch văn hóa. Những kinh nghiệm này cho thấy khảo cổ học không chỉ phục vụ nghiên cứu khoa học mà còn có thể trở thành nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch.

Sau khi mở rộng địa giới với Quảng Nam (cũ), Đà Nẵng có thêm điều kiện kết nối các không gian di sản trong cùng một địa bàn quản lý. TP. Đà Nẵng hiện sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa - khảo cổ đặc biệt phong phú, bao gồm các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Champa, các thương cảng cổ, các di tích lịch sử thời Đại Việt cùng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị.
Đặc biệt, sự hiện diện của các di sản nổi bật như Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, các khu di tích vùng Trà Kiệu, Đồng Dương và hệ thống di tích ven biển đã tạo nên một không gian văn hóa liên hoàn có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học và phát triển du lịch.
Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Bảo tàng Mỹ Sơn và các khu di tích hiện là nơi công chúng trực tiếp gặp gỡ hiện vật, kiến trúc và câu chuyện khai quật, bảo tồn.

Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn có lợi thế nổi bật về hạ tầng giao thông, dịch vụ du lịch, khả năng kết nối vùng và vị thế là trung tâm du lịch của miền Trung.
Đây là những điều kiện thuận lợi, là nền tảng để phát triển hình thức giới thiệu chuyên sâu hơn, xây dựng các sản phẩm du lịch chuyên đề dựa trên nền tảng khảo cổ học, kết nối giữa nghiên cứu khoa học, giáo dục di sản và trải nghiệm du lịch. Cụ thể là các tuyến du lịch khảo cổ liên vùng Đà Nẵng - Hội An - Mỹ Sơn, công viên khảo cổ ngoài trời và trải nghiệm tìm hiểu không gian di sản khảo cổ dưới nước như những phương án được đề xuất.
Mở cánh cửa xuống không gian dưới nước
Vùng biển Đà Nẵng - Cù Lao Chàm có nhiều tiềm năng nghiên cứu và khai thác giá trị khảo cổ học dưới nước. Các phát hiện về tàu đắm, hiện vật gốm sứ và dấu tích giao thương hàng hải cho thấy nơi đây từng là một điểm kết nối quan trọng trên tuyến “Con đường Gốm sứ trên biển”, góp phần phản ánh lịch sử giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Hoa văn, kiểu dáng hiện vật và câu chuyện về cư dân cổ còn có thể trở thành chất liệu cho các ngành sáng tạo, nếu được nghiên cứu và sử dụng đúng bối cảnh. Những họa tiết trên đồ gốm Sa Huỳnh, hoa văn kiến trúc Champa, những câu chuyện về cư dân tiền sử có thể trở thành chất liệu cho thiết kế, mỹ thuật ứng dụng, xuất bản, điện ảnh, trò chơi giáo dục hay các sản phẩm lưu niệm mang bản sắc địa phương.
Giá trị của sản phẩm sáng tạo không chỉ nằm ở hình thức đẹp mà còn ở câu chuyện được kể có căn cứ, giúp công chúng hiểu hơn về di sản và địa phương. Để có được điều đó, thông tin khảo cổ phải dễ tiếp cận hơn qua triển lãm, hoạt động học tập, ấn phẩm và hình thức giới thiệu số.
Từ tiềm năng này, các phương án như trưng bày chuyên đề khảo cổ biển, nghiên cứu khảo cổ dưới nước hoặc trải nghiệm có kiểm soát có thể được xem xét sau khi khảo sát các điều kiện bảo tồn và an toàn, đồng thời xác lập cơ sở khoa học để triển khai. Điều kiện trước tiên vẫn là bảo vệ di sản, bảo đảm an toàn và có cơ sở khoa học.
Đưa khảo cổ học vào không gian số
Nhiều hướng tiếp cận chuyên sâu cũng được các chuyên gia đề cập tại hội thảo Khảo cổ học Đà Nẵng, như khảo cổ học cộng đồng, bản đồ số di sản, giáo dục di sản, hợp tác quốc tế và du lịch văn hóa. Điểm chung là đưa tri thức khảo cổ vào đời sống, bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu và bảo tồn. Công nghệ số có thể hỗ trợ lưu trữ, trình bày tư liệu và diễn giải di sản; tuy nhiên, nội dung giới thiệu vẫn phải dựa trên kết quả nghiên cứu được kiểm chứng.
Các chương trình như “Một ngày làm nhà khảo cổ”, khai quật mô phỏng, nhận diện hiện vật và học ngoại khóa tại di tích là những gợi ý cho giáo dục di sản. Khi tổ chức, cần phân biệt trải nghiệm mô phỏng với hoạt động khai quật khoa học.
Đối với Đà Nẵng, bảo tàng, di tích và trường học có thể phối hợp xây dựng hoạt động phù hợp với từng nhóm công chúng. Người tham gia không chỉ nhìn thấy hiện vật mà còn hiểu nó được tìm thấy ở đâu, gắn với cộng đồng nào và vì sao cần bảo vệ.

Một câu chuyện được giới thiệu rõ nguồn gốc, niên đại và bối cảnh sẽ giúp du khách, học sinh tiếp cận di sản sâu hơn. Đây là nền tảng để kết nối khảo cổ học với giáo dục và sáng tạo văn hóa. Muốn những giá trị ấy hiện diện lâu dài trong đời sống, di tích còn phải được bảo vệ từ khâu quy hoạch và quản lý không gian phát triển.
(Còn tiếp)

RSS