Đánh thức "mỏ vàng" kinh tế thể thao:
Bài 2 - Vì sao “mỏ vàng” chưa được khai phá?
VHO - Từ các giải chạy hàng vạn người, những sân chơi thể thao phong trào đông kín, các phòng tập thể hình, yoga, pickleball, golf ngày càng phát triển, có thể thấy nhu cầu thể thao trong xã hội Việt Nam đang tăng rất nhanh. Nhưng đằng sau sự sôi động ấy là một nghịch lý: Tiềm năng lớn, thị trường có thật, người dân có nhu cầu, doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm, song kinh tế thể thao Việt Nam vẫn chưa hình thành như một ngành kinh tế hoàn chỉnh. Đó chính là câu hỏi mà chúng ta cần lời giải để kinh tế thể thao thực sự cất cánh trong kỷ nguyên mới.

Khoảng trống mang tên dữ liệu và chuỗi giá trị
Một trong những vấn đề căn bản nhất của kinh tế thể thao Việt Nam hiện nay là thiếu dữ liệu. Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt đã thẳng thắn chỉ ra rằng, khoảng trống lớn của ngành hiện nay là chưa có con số thống kê đầy đủ; không có con số thống kê thì khó có định hướng và phương án phát triển phù hợp. Đây là nhận định rất quan trọng, bởi một ngành kinh tế muốn phát triển trước hết phải được đo lường.
Khi chưa có hệ thống thống kê chuyên biệt, rất khó trả lời chính xác kinh tế thể thao Việt Nam đang có quy mô như thế nào, đóng góp bao nhiêu vào GDP, tạo ra bao nhiêu việc làm, đâu là phân khúc tăng trưởng nhanh nhất, đâu là lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, đâu là khu vực cần chính sách hỗ trợ. Các con số ước tính 1,5 - 2,5 tỉUSD hay kịch bản đạt 3-5 tỉUSD trong vài năm tới có giá trị gợi mở, nhưng để trở thành cơ sở hoạch định chính sách, cần một bộ chỉ số bài bản, có phương pháp đo lường thống nhất và được cập nhật thường xuyên.
Kinh tế thể thao không chỉ là một vài giải đấu hoặc vài hợp đồng tài trợ. Đó là một chuỗi giá trị gồm sản xuất, phân phối, tiêu dùng, truyền thông, dữ liệu, hạ tầng, đào tạo, tổ chức sự kiện, thương mại, du lịch và dịch vụ phụ trợ. Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng, các yếu tố cấu thành nền kinh tế thể thao trong nước đã hình thành nhưng còn rời rạc, thiếu liên kết. Đây là điểm nghẽn lớn. Một giải chạy có thể đông người, nhưng nếu thiếu kết nối với du lịch, thương mại địa phương, truyền thông, tài trợ và dữ liệu người tham gia, giá trị kinh tế sẽ bị giới hạn. Một sân vận động có thể tổ chức trận đấu, nhưng nếu không có dịch vụ phụ trợ, cửa hàng, bảo tàng, tour trải nghiệm, sự kiện quanh năm, khu thương mại, nó khó trở thành tài sản tạo dòng tiền ổn định.
So với các quốc gia có ngành thể thao phát triển, Việt Nam còn thiếu những mô hình kinh doanh thể thao quy mô lớn. Bóng đá là môn có thị trường tương đối rõ hơn, nhưng ngay cả bóng đá cũng vẫn còn nhiều khó khăn trong khai thác bản quyền, doanh thu ngày thi đấu, bán hàng lưu niệm, dữ liệu người hâm mộ và giá trị thương mại của câu lạc bộ. Với nhiều môn khác, kinh tế thể thao mới dừng ở mức tài trợ từng giải, từng sự kiện, chưa hình thành thị trường ổn định.
Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM Nguyễn Nam Nhân nhìn nhận, trong nhiều năm, thể thao Việt Nam phát triển chủ yếu theo hai trục: Thể thao thành tích cao và thể thao quần chúng. Đây là hai trục rất quan trọng, phù hợp với mục tiêu nâng cao sức khỏe nhân dân, phát triển con người toàn diện và khẳng định vị thế quốc gia trên đấu trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, chỉ hai trục đó là chưa đủ. Cần bổ sung một trục phát triển thứ ba đó là kinh tế thể thao. Trục này không thay thế nhiệm vụ chính trị, văn hóa, xã hội của thể thao, mà tạo thêm nguồn lực để các nhiệm vụ ấy được thực hiện bền vững hơn.
“Vấn đề là cách tiếp cận phải thay đổi. Nếu coi thể thao chỉ là lĩnh vực thụ hưởng ngân sách, chúng ta sẽ khó nhìn thấy hết tài sản đang có. Nhưng nếu coi thể thao là một ngành có khả năng tạo giá trị, câu chuyện sẽ khác. Một giải đấu không chỉ là hoạt động chuyên môn, mà còn là sản phẩm truyền thông. Một vận động viên không chỉ là người thi đấu, mà còn có thể là đại sứ thương hiệu. Một nhà thi đấu không chỉ là nơi tổ chức giải, mà còn có thể là không gian dịch vụ, giải trí, sự kiện. Một phong trào tập luyện không chỉ là chỉ tiêu sức khỏe, mà còn là thị trường cho thiết bị, huấn luyện, y học thể thao, công nghệ và du lịch”, ông Nguyễn Nam Nhân phân tích.
Tài sản chưa được đánh thức
Theo TS Huỳnh Trí Thiện, ngành Quản lý Thể thao Đại học Chulalongkorn (Thái Lan), một điểm nghẽn khác nằm ở việc nhiều tài sản thể thao chưa được khai thác tương xứng. Đó là hạ tầng sân bãi, nhà thi đấu, trung tâm huấn luyện; bản quyền truyền hình; thương hiệu vận động viên; hình ảnh đội tuyển, giải đấu, câu lạc bộ; dữ liệu người hâm mộ; các sản phẩm nội dung thể thao. Những tài sản này nếu được nhận diện và vận hành theo cơ chế phù hợp có thể tạo nguồn lực tái đầu tư cho thể thao.
Hiện nay, nhiều công trình thể thao thuộc khu vực công vẫn chủ yếu được vận hành theo mô hình hành chính. Trong khi đó, kinh tế thể thao hiện đại đòi hỏi hạ tầng phải được khai thác như một tài sản sống. Sân vận động, nhà thi đấu, tổ hợp thể thao không thể chỉ hoạt động trong vài ngày có giải đấu rồi bỏ trống phần lớn thời gian còn lại. Chúng cần được kết nối với dịch vụ, thương mại, giáo dục, giải trí, du lịch, chăm sóc sức khỏe và các hoạt động cộng đồng.
“Tuy nhiên, để khai thác được hạ tầng thể thao, phải tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế tài sản công, liên doanh, liên kết, cho thuê, hợp tác công tư và trách nhiệm quản trị. Đây là điểm có liên quan trực tiếp đến tinh thần đổi mới thể chế trong phát triển văn hóa, thể thao hiện nay. Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra cách tiếp cận mới về huy động nguồn lực, khuyến khích xã hội hóa, thí điểm cơ chế đặc thù, vượt trội và tạo không gian cho những mô hình phát triển mới. Với thể thao, tinh thần đó có ý nghĩa rất lớn: Tài sản công nếu được quản lý minh bạch, đúng pháp luật và vận hành hiệu quả có thể trở thành nguồn lực phát triển thay vì chỉ là gánh nặng duy tu, bảo trì”, TS Thiện phân tích.
Bên cạnh hạ tầng, bản quyền truyền thông cũng là một tài sản quan trọng nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Trên thế giới, bản quyền là một trong những nguồn thu lớn nhất của thể thao chuyên nghiệp. Ở Việt Nam, thị trường bản quyền thể thao đang phát triển, chưa ổn định, giá trị nhiều giải đấu chưa cao. Nguyên nhân không chỉ do năng lực chi trả của thị trường, mà còn do chất lượng tổ chức, lịch thi đấu, truyền thông, dữ liệu khán giả, sức hấp dẫn của giải đấu và khả năng xây dựng câu chuyện quanh các nhân vật thể thao.
Thương hiệu vận động viên cũng là một “mỏ vàng” chưa khai phá hết. Một số vận động viên bóng đá, bóng chuyền, điền kinh, bơi lội, võ thuật đã có sức hút với công chúng, nhưng việc xây dựng, bảo vệ và thương mại hóa hình ảnh cá nhân vẫn còn thiếu chuyên nghiệp. Nếu được hỗ trợ đúng cách, vận động viên có thể tạo thêm thu nhập hợp pháp, doanh nghiệp có thêm kênh truyền thông hiệu quả, còn thể thao có thêm nguồn lực xã hội. Điều quan trọng là phải có cơ chế bảo vệ hình ảnh, quyền lợi và đạo đức nghề nghiệp, tránh thương mại hóa bằng mọi giá.
Từ góc nhìn chính sách, phát triển kinh tế thể thao cũng phù hợp với tinh thần phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, phát triển con người toàn diện và nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Các nghị quyết của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới đều nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy nguồn lực con người, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế. Thể thao, nếu được tiếp cận như một ngành kinh tế sáng tạo, hoàn toàn có thể hòa vào dòng chảy đó.
Kinh tế thể thao Việt Nam đang ở thời điểm bản lề. Những gì đang diễn ra cho thấy tiềm năng lớn, nhưng tiềm năng chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được tổ chức, đo lường và dẫn dắt bằng chính sách phù hợp. Vì vậy, sau khi nhận diện “mỏ vàng” và chỉ ra những điểm nghẽn, câu hỏi quan trọng nhất là: Chúng ta sẽ làm gì để biến tiềm năng thành hiện thực?
(Còn tiếp)

RSS