Sức ép “viral” và giới hạn của sáng tạo

TRUNG NGHĨA

VHO - Truyền hình thực tế và các nền tảng số đang đưa nghệ sĩ, âm nhạc đến với công chúng nhanh hơn, rộng hơn bao giờ hết. Cùng với cơ hội ấy, cuộc đua giành lượt xem, lượt thích và độ “viral” cũng kéo theo những biểu hiện đáng lo: Ca từ dễ dãi, nội dung gây sốc, hình ảnh phản cảm được sử dụng như một cách tạo chú ý. Sáng tạo cần được rộng cửa, nhưng không thể trở thành tấm áo che cho những biểu đạt vượt quá giới hạn.

Sức ép “viral” và giới hạn của sáng tạo - ảnh 1
Xây dựng môi trường âm nhạc lành mạnh cần trách nhiệm từ người sáng tạo, đơn vị phát hành, nền tảng số đến công chúng. Ảnh minh họa: AI

 Lượt xem trở thành “thước đo”

Nếu trước đây một nghệ sĩ thường phải đi qua album, MV hay những sân khấu lớn để đến gần công chúng, thì hôm nay con đường ấy có thể bắt đầu từ một tiết mục truyền hình thực tế, một khoảnh khắc bất ngờ hay vài chục giây video lan truyền trên mạng xã hội. Sân khấu, truyền hình và không gian số ngày càng kết nối chặt, làm thay đổi cả cách âm nhạc được sản xuất, quảng bá lẫn tiếp nhận.

Những chương trình âm nhạc thực tế như Anh trai vượt ngàn chông gai, Tinh hà “say hi” cho thấy khá rõ xu hướng này. Một tiết mục không kết thúc khi chương trình lên sóng. Sau đó là hàng loạt video ngắn, bản cắt màn trình diễn, hậu trường, bình luận và các cuộc thảo luận trên mạng xã hội. Khán giả xem chương trình rồi tiếp tục bình chọn, chia sẻ, làm nội dung, đưa những khoảnh khắc yêu thích trở lại dòng chảy mạng xã hội. Sức nóng của một tiết mục vì vậy có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí lâu hơn thời lượng phát sóng ban đầu.

Các nền tảng trực tuyến cũng mở rộng đáng kể đường đi của một sản phẩm âm nhạc. MV, album hay clip biểu diễn có thể nhanh chóng tiếp cận lượng khán giả lớn mà không bị giới hạn bởi không gian của sân khấu truyền thống. Nghệ sĩ trẻ có thêm cơ hội bước vào thị trường; âm nhạc cũng gắn ngày càng chặt với hình ảnh, thời trang, nội dung giải trí, cộng đồng người hâm mộ và cách thức phân phối trên môi trường số.

Nhưng chính ở đây xuất hiện một áp lực khác. Lượt xem, lượt thích, thứ hạng và khả năng “viral” ngày càng dễ được xem như bằng chứng cho thành công. Cuộc đua giành sự chú ý không dừng ở cách quảng bá, mà có thể len thẳng vào quá trình sáng tạo.

Thực tế cho thấy, một ca khúc càng gây tranh cãi càng dễ kéo theo bình luận, chia sẻ và những cuộc tranh luận dây chuyền. Ca từ nhạy cảm, ngôn ngữ dung tục, hình ảnh gây sốc bởi vậy có nguy cơ trở thành một thứ “mồi” để câu tương tác. Ranh giới giữa thử nghiệm nghệ thuật có chủ đích với việc cố tình gây chú ý bằng những yếu tố phản cảm cũng trở nên khó phân định hơn.

Trường hợp album HVL của rapper MCK là một ví dụ gần đây. Album phát hành ngày 17.6.2026, gồm 30 ca khúc và nhanh chóng tạo hiệu ứng trên các nền tảng nhạc số. Nhiều bài đạt lượng nghe lớn, album từng đứng thứ 4 bảng xếp hạng Top Albums Debut Global của Spotify. Song cùng với sức nóng ấy là những phản ứng về ngôn từ bị cho là tục tĩu, phản cảm và một số hình ảnh, ẩn dụ được liên hệ với chất kích thích.

Ngày 28.7, Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM mời MCK làm việc để trao đổi, làm rõ các nội dung được phản ánh. Sau đó, nam rapper lên tiếng nhận thiếu sót trong việc sử dụng ngôn từ và chủ động gỡ 19 trong tổng số 30 ca khúc khỏi các nền tảng để chỉnh sửa trước khi xem xét phát hành trở lại.

Câu chuyện này không đứng riêng lẻ. Trước đó, nhiều sản phẩm của Jack, B Ray, Andree cùng một số nghệ sĩ trẻ từng gây tranh luận vì ca từ, cách chơi chữ hoặc hình ảnh bị đánh giá lệch chuẩn, phản cảm, thậm chí gợi liên tưởng đến chất cấm. Tháng 10.2025, cơ quan chức năng tại TP.HCM đã có động thái chấn chỉnh đối với một số biểu hiện lệch chuẩn trong hoạt động âm nhạc, trong đó nhiều ca khúc và nghệ sĩ được nêu cụ thể.

Vấn đề đặt ra không phải nghệ sĩ có được quyền phá cách hay không. Điều đáng bàn là giới hạn nào khiến một thử nghiệm nghệ thuật trượt sang dễ dãi, dung tục; và việc gây tranh cãi liệu có đang được một số người sử dụng như cách ngắn nhất để giành sự chú ý giữa thị trường ngày càng chật chội.

Đừng để “viral” lấn át sáng tạo

ThS Lê Thị Thoa, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQG Hà Nội cho rằng, nghệ sĩ có quyền làm mới mình, tìm cách tạo sức hút với khán giả, song sáng tạo vẫn cần được đặt trong những chuẩn mực đạo đức và thuần phong mỹ tục. Một sản phẩm có thể hiện đại, táo bạo, khác biệt, nhưng nếu thiếu tính nhân văn thì khó tạo nên giá trị bền vững.

Quan điểm này càng đáng chú ý khi đối tượng tiếp nhận âm nhạc trên các nền tảng số ngày càng trẻ. Một câu hát, một hình ảnh, thậm chí vài giây của MV có thể thoát khỏi sản phẩm gốc, được cắt ra, đăng lại và lan truyền tới những nhóm công chúng mà nghệ sĩ ban đầu chưa chắc đã hướng tới.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, sự xuất hiện và lan truyền nhanh của những sản phẩm có ca từ dung tục, nội dung dễ dãi, hình ảnh phản cảm là vấn đề đáng lo trong đời sống văn hóa số. Nghệ thuật cần khuyến khích tìm tòi và khác biệt, nhưng sự mới mẻ không thể là lý do biện minh cho dung tục, phản cảm. Mỗi lựa chọn nghệ thuật đều kéo theo tác động đối với công chúng và môi trường văn hóa.

Thách thức của công tác quản lý hiện nay nằm ngay ở tốc độ của môi trường số. Chỉ vài giờ sau khi phát hành, một sản phẩm đã có thể đến với lượng người xem rất lớn. Một khi nội dung bị sao chép, cắt ghép, đăng lại trên nhiều tài khoản và nhiều nền tảng, việc gỡ bản gốc cũng khó thu hồi hết những gì đã lan truyền. Trường hợp một số nội dung từ album HVL vẫn được đăng lại sau khi bản gốc bị gỡ cho thấy khá rõ độ trễ này.

Nếu luôn chờ đến lúc dư luận phản ứng rồi mới xử lý, cơ quan quản lý dễ rơi vào thế chạy theo sự việc. Bài toán vì vậy cần được đặt từ sớm hơn, ngay trong chuỗi sản xuất và phân phối sản phẩm âm nhạc.

Trách nhiệm trước hết thuộc về người sáng tạo. Nghệ sĩ có quyền lựa chọn ngôn ngữ biểu đạt, nhưng cũng phải hiểu sản phẩm của mình có thể đi đến đâu và tác động tới ai. Đơn vị sản xuất, phát hành cần nâng vai trò biên tập, thay vì đặt phần lớn sự quan tâm vào khả năng tạo hiệu ứng hay kéo lượt xem. Với các nền tảng số, cơ chế phân loại độ tuổi, cảnh báo nội dung, tiếp nhận phản ánh và xử lý những sản phẩm vi phạm cần được vận hành hiệu quả hơn.

Truyền thông, gia đình, nhà trường và chính khán giả cũng nằm trong vòng trách nhiệm ấy. Một sản phẩm gây sốc tồn tại được bao lâu phụ thuộc khá nhiều vào cách công chúng tiếp nhận, chia sẻ và cổ vũ. Khi tranh cãi đồng nghĩa với thêm lượt xem, sự phản ứng đôi khi lại vô tình tiếp sức cho chính thứ mà người xem muốn phản đối.

Âm nhạc Việt đang có một thế hệ nghệ sĩ trẻ nhiều năng lượng, nhanh nhạy với công nghệ và dám thử nghiệm. Đó là lợi thế lớn của thị trường. Điều cần giữ là để sự táo bạo đi cùng năng lực nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm, thay vì biến phản cảm thành đường tắt tới sự nổi tiếng.